vanban.org

Bản án 10/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 24/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho các bị cáo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn NN 18 (mười tám) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2018; Xử phạt bị cáo Phạm VH1 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn NN tội “ Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho các bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HS - PT
Ngày 24/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình.

Các Thẩm phán: Ông Giáp Bá Dự.

Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2019,tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 131/2018/TLPT-HS ngày 19 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn NN do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2018/HS - ST ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

1.Nguyễn NN (tên gọi khác: Tý) sinh năm 1996 tại huyện HL, tỉnh Thanh Hóa; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn IM, xã ID, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn VN , sinh năm 1972 và bà Trịnh TN, sinh năm 1979; có vợ là Phạm Thị TH, sinh năm 1997 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 14/9/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng có liên quan đến việc kháng cáo:

1.Phạm VH1, sinh năm 1996 tại huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn IM, xã ID, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm VH2 , sinh năm 1968 và bà Nguyễn TP (đã chết); Tiền án, tiền sự: không; Ngày 14/9/2018 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Vắng mặt.

- Bị hại:

1. Ông Bùi VA, sinh năm 1965. Vắng mặt.

2. Anh Bùi VT, sinh năm 1997.Vắng mặt.

Đều trú tại: thôn IM, xã ID, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 ngày 25/3/2018, Nguyễn NN điều khiển xe mô tô mang BKS: 81U1-177.66 đến rủ Phạm VH1 (là anh vợ của Nguyễn NN, cùng trú tại: Thôn IM, xã ID, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai) đến nhà vợ chồng ông Bùi VA, bà Nguyễn TM (trú cùng thôn) xin chuộc lại chiếc xe máy mà ông Phạm VH2 (bố đẻ của Phạm VH1) bán cho bà Nguyễn TM trước đó với giá 7.000.000 đồng. Trước khi đi, Nguyễn NN đã gọi điện cho bà Nguyễn TM với nội dung sẽ qua nhà chuộc xe, bà Nguyễn TM đồng ý và nói qua hỏi ý kiến của ông Bùi VA. Sau khi đến trước cổng nhà ông Bùi VA ở thôn IM, xã ID thì Nguyễn NN, Phạm VH1 gọi cổng, ông Bùi VA đi ra đứng trong cổng bảo cầm 8.000.000 triệu đồng đến đây chuộc, không thì thôi, Nguyễn NN và Phạm VH1 yêu cầu cho xem giấy tờ. Lúc này, hai bên xảy ra cãi vả, lời qua tiếng lại, ông Bùi VA đi vào trong sân lấy 01 gậy tuýp sắt dài khoảng 01m đi vòng qua cửa phụ bên hông nhà, ra chỗ Nguyễn NN, Phạm VH1 đứng và nói: “Bố mày còn không dám láo với tao, chúng mày mất dạy”, sau đó giơ gậy tuýp sắt lên đánh Nguyễn NN nhưng không trúng, Phạm VH1 thấy vậy xông vào ôm, giằng co, đánh đấm vào người ông Bùi VA làm ông Bùi VA ngã, Nguyễn NN giật gậy tuýp sắt từ tay ông Bùi VA, dùng tay phải cầm gậy tuýp sắt giật được từ tay ông Bùi VA đánh 02 cái từ trên xuống dưới trúng đầu và vào vùng đuôi mắt, thái dương trái của ông Bùi VA. Thấy bố bị đánh, con trai ông Bùi VA là Bùi VT cầm 01 cây gậy le chạy ra can ngăn và quát: “Chúng mày đánh bố tao”, rồi cầm gậy le đánh Nguyễn NN nhưng Nguyễn NN đỡ được và bị Nguyễn NN dùng gậy tuýp sắt lúc nãy đánh ông Bùi VA tiếp tục đánh 01 cái từ trên xuống trúng đầu Bùi VT. Cùng lúc đó, thấy Bùi VT cầm gậy le đánh Nguyễn NN nên Phạm VH1 chạy lại bờ rào nhà bên cạnh (nhà ông Sỹ) rút một cọc rào bằng gỗ (loại bìa gỗ), dùng hai tay đánh 01 cái trúng lưng, vai của Bùi VT làm Bùi VT té ngã, Phạm VH1 và Bùi VT ôm vật nhau dưới mương nước trước nhà ông Bùi VA. Trong quá trình đánh nhau gây ồn ào nên hàng xóm ra đông và can ngăn. Sau đó, ông Bùi VA và Bùi VT được anh Ngô Văn Phong (hàng xóm) chở đi cấp cứu.

Tại kết luận số: 125/TgT-TTPY ngày 11/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận đối với ông Bùi VA: dấu hiện chính qua giám định là một sẹo vết thương phần mềm vùng gò má – thái dương trái kích thước (4,5x0,3)cm, sẹo liền, ảnh hưởng đến thẩm mỹ là 11% (Mười một phần trăm); Một sẹo vết vùng trán – đỉnh kích thước (3x0,3)cm và một sẹo vết mặt lưng đốt 1 ngón III bàn tay trái kích thước (1,5x0,1)cm, sẹo liền là 2% (Hai phần trăm). Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 13%, áp dụng theo Thông tư 20/2014/TT-BYT.

Tại kết luận số: 126/TgT-TTPY, ngày 11/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận đối với Bùi VT: dấu hiện chính qua giám định là một sẹo vết thương phần mềm vùng trán đỉnh kích thước (4x0,3)cm, sẹo liền, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 2%, áp dụng theo Thông tư 20/2014/TT-BYT.

Tại bản Cáo trạng số: 31/CT- VKS ngày 10/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Nguyễn NN, Phạm VH1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2018/HS - ST ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn NN phạm tội “ Cố ý gây thương tích”;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn NN 02 (Hai) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2018;

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Phạm VH1 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo thời hạn luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/11/2018 bị cáo Nguyễn NN kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm về phần quyết định có liên quan đến quyền lợi của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cho rằng bị cáo chỉ đến nhà bị hại để chuộc lại xe, không có ý định đánh nhau và không mang theo hung khí, việc bị cáo đánh bị hại là để tự vệ vì bị hại đã dùng hung khí tấn công bị cáo trước, do đó đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

-Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên phạt bị cáo Nguyễn NN về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ,đúng pháp luật. Hình phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, hậu quả đã gây ra, đã xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với tội phạm. Bị cáo kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 23/5/2018, xuất phát từ việc bị cáo Nguyễn NN và Phạm VH1 đến nhà ông Bùi VA để xin chuộc lại chiếc xe máy mà trước đó bố vợ của bị cáo Nguyễn NN đã bán cho ông Bùi VA thì hai bên xảy ra cãi vã, xô xát. Ông Bùi VA cầm tuýp sắt chạy ra đánh các bị cáo, thì bị Phạm VH1 lao vào ôm, đánh làm ông Bùi VA ngã xuống đường, bị cáo Nguyễn NN đã giật tuýp sắt từ tay ông Bùi VA, đánh ông Bùi VA 02 cái trúng vào đầu và thái dương. Anh Bùi VT cũng cầm gậy le ra đánh nhau với các bị cáo thì bị Nguyễn NN dùng tuýp sắt đánh một cái vào đầu và bị Phạm VH1 dùng gậy gỗ đánh 01 cái trúng vào vai, lưng. Hậu quả ông Bùi VA bị thương tích là 13 %, anh Bùi VT bị thương tích 2%. Sau khi sự việc xảy ra người bị hại đã có đơn yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Xét hành vi của các bị cáo thấy rằng: Mặc dù giữa các bị cáo không có sự bàn bạc trước với nhau về việc đánh người bị hại, người bị hại Bùi VA có hành vi dùng ống tuýp sắt tấn công các bị cáo trước tuy nhiên chưa đánh trúng bị cáo nào, hơn nữa khi ông Bùi VA bị Phạm VH1 ôm, đánh ngã xuống đường thì xét về tương quan lực lượng lúc này các bị cáo là những người chiếm ưu thế hơn, đông hơn, ông Ât là người đã lớn tuổi nên nguy cơ tấn công từ phía ông Bùi VA đối với các bị cáo là không lớn, do đó việc các bị cáo cùng nhau đánh ông Bùi VA, trong đó bị cáo Nguyễn NN giật gậy tuýp sắt đánh ông Bùi VA là vượt quá mức cần thiết, đối với Bùi VT mặc dù có dùng gậy le tấn công nhưng bị cáo Nguyễn NN đã đỡ được, sau đó Nguyễn NN và Phạm VH1 đã dùng tuýp sắt, gậy gỗ đánh gây thương tích cho Bùi VT. Các bị cáo đều nhận thức được việc dùng hung khí tấn công có thể gây ra thương tích cho người bị hại, tuy nhiên để thõa mãn bực tức các bị cáo đã cùng nhau thực hiện tội phạm, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Với hành vi và hậu quả nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn NN, Phạm VH1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo thấy rằng: Trong vụ án này, tính chất chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn NN là người giữ vai trò chính, là người đã dùng tuýp sắt đánh bị hại, hành vi của bị cáo là nguyên nhân chủ yếu gây ra thương tích cho người bị hại, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn NN hình phạt cao hơn bị cáo Phạm VH1 là có tính phân hóa, phù hợp. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là đúng pháp luật.Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót khi chưa xem xét, đánh giá đến việc người bị hại có một phần lỗi vì đã hành xử không đúng, dùng hung khí tấn công bị cáo trước là nguyên nhân gây ra việc đánh nhau nên đã xử bị cáo với mức hình phạt 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ chấp nhận kháng cáo giảm một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo phạm tội là phù hợp, tương xứng với tính chất,mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, đảm báo tính tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Đối với bị cáo Phạm VH1, mặc dù trong vụ án này bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, xét vai trò của bị cáo trong vụ án, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt 18 (mười tám) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn NN không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho các bị cáo.

- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn NN 18 (mười tám) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2018;

-Xử phạt bị cáo Phạm VH1 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

[2Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về Án phí, Lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn NN không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ