vanban.org

Bản án 10/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao cho anh Nguyễn Văn H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Quốc H - sinh ngày 14 tháng 11 năm 2012 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Chị Trần Thị H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/tháng, cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2019 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Giao cho anh Nguyễn Văn H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Quốc H - sinh ngày 14 tháng 11 năm 2012 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2019/HNGĐ-ST
Ngày 22 tháng 5 năm 2019
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Ngọc Ảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ánh

2. Bà Lương Thị Hải

- Thư ký‎ phiên tòa: Bà Chu Thị Thủy Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Giáp Nguyễn Quang Liêm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 03/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2019, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H - sinh năm: 1994; Trú tại: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H - sinh năm: 1992; Trú tại: Thôn Bình L, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 06/12/2018 và các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn, cưới nhau năm 2012, đăng ký kết hôn số 38 ngày 11 tháng 6 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Quá trình chung sống đến năm 2015 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và chị H đã về nhà cha mẹ đẻ tại thôn Phước Lâm, xã Ninh Xuân, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa ở cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên kình cãi với nhau. Hiện nay, vợ chồng không sống chung với nhau, không ai quan tâm chăm sóc cho ai. Nay, chị Hạnh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Tại phiên tòa, chị Trần Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết: Cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung là Nguyễn Quốc H - sinh ngày 14 tháng 11 năm 2012. Hiện nay, con chung do anh Nguyễn Văn H đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. + Tại phiên tòa, chị Trần Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết: Giao con chung cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), chị H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng), cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2019 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi).

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng. * Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H để trình bày ý kiến về việc chị H khởi kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh H đều không có mặt nên Toà án không lấy được lời khai của anh H, không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn H trú tại thôn Bình Lộc 2, xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa; nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa (vắng mặt lần thứ 2), nhưng căn cứ vào lời khai của chị H và các chứng cứ đã thu thập được thì việc kết hôn giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H là tự nguyện, đăng ký kết hôn số 38 ngày 11 tháng 6 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H là hợp pháp.

Căn cứ lời khai của chị H, biên bản xác minh thì vợ chồng chị H, anh H đã xảy ra mâu thuẫn. Từ năm 2015 đến nay, vợ chồng không sống chung với nhau nữa, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh H đến Tòa để giải quyết ly hôn giữa hai người nhưng anh H đều không có mặt, chứng tỏ anh H không còn quan tâm gì về quan hệ hôn nhân này nữa; nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa hai người đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị H.

[3] Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

Vợ chồng chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H có 01 (một) con chung là Nguyễn Quốc H - sinh ngày 14 tháng 11 năm 2012.

Chị H và anh H ai cũng có quyền nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Tuy nhiên, thực tế thì anh Nguyễn Văn H đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung từ khi chị H bỏ đi. Nên việc chị H yêu cầu giao con chung cho anh H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với đạo đức xã hội. Nên chấp nhận yêu cầu này của chị H là giao con chung cho anh H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng), cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2019 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi).

[4] Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.

+ Nợ chung: Vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng.

[5] Bị đơn anh Nguyễn Văn H mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc kiện của nguyên đơn và cũng không hoà giải được vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của anh H.

[6] Về án phí:

- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

- Án phí về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, 1 - Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H được ly hôn. 2 - Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

- Giao cho anh Nguyễn Văn H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Quốc H - sinh ngày 14 tháng 11 năm 2012 cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

- Chị Trần Thị H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng)/tháng, cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2019 cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị H, anh H có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như về cấp dưỡng nuôi con chung. 3 - Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung. 4 - Về án phí:

- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0006537 ngày 04 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

- Án phí về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Hạnh phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

5 - Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.

* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ