- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Q và anh B"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Q.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 10/2019/HNGĐ-ST Ngày: 27/3/2019 V/v: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
2. Ông Phan Minh Quốc
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh An Giang.
Ngày 27 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 388/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Q, sinh năm 1994 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Trần Quốc B, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
(Đã được tống đạt thủ tục tố tụng hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Q trình bày:
Chị và anh Trần Quốc B do tự tìm hiểu và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2016, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 29/4/2016. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc và có 01 con chung tên Trần Huỳnh Quốc K sinh ngày 27/02/2017. Nhưng đến khoảng tháng 4/2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân có nhiều bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyền cự cãi, anh B không lo làm ăn chăm lo cho gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 5/2018 cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quốc B.
- Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Trần Huỳnh Quốc K sinh ngày 27/02/2017. Hiện cháu K đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về phía bị đơn anh Trần Quốc B: Trong quá trình thụ lý vụ án và hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và triệu tập hợp lệ đương sự đến lần thứ hai nhưng anh B không gửi văn bản ghi ý kiến của bản thân, cũng không đến tham gia phiên hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, bị đơn anh Trần Quốc B có địa chỉ tại ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Trần Quốc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Quốc B.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Q với anh Trần Quốc B chung sống với nhau từ năm 2016, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V ngày 29/4/2016. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và B vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Q, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Q và anh B chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Nhưng đến khoảng tháng 4/2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân có nhiều bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh B không lo làm ăn chăm lo cho gia đình. Vì thương con còn nhỏ nên chị cố gắng chịu đựng và khuyên ngăn nhưng anh B vẫn không thay đổi. Chị và anh B đã ly thân từ tháng 5/2018 cho đến nay. Mặc dù biết chị nộp đơn khởi kiện xin ly hôn nhưng anh B cũng không đến liên hệ, không có ý định thể hiện mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Q để xây dựng gia đình và nuôi dạy con chung. Về phía anh B, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh B, tạo điều kiện cho anh B hàn gắn tình cảm với chị Q nhưng anh B không đến tham dự các phiên hòa giải, xét xử và cũng không có văn bản nào nêu ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của chị Q. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị Q và anh Trần Quốc B đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Q.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị Huỳnh Thị Q và anh Trần Quốc B có 01 con chung tên Trần Huỳnh Quốc K sinh ngày 27/02/2017 (hiện cháu K đang sống với chị Q). Xét yêu cầu xin nuôi con của chị Q, Hội đồng xét xử nhận thấy: hiện tại cháu Trần Huỳnh Quốc K đang được chị Q chăm sóc, nuôi dưỡng và đến nay cháu K chưa đủ 36 tháng tuổi nên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và ổn định cuộc sống của cháu K Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để áp dụng Khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu của chị Q, giao cháu Trần Huỳnh Quốc K cho chị Q tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhưng chị Q phải tạo điều kiện cho anh B đến thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Q không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Tuy nhiên, khi có điều kiện và tình hình thời gian thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Do chị Huỳnh Thị Q yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Q.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Q được ly hôn với anh Trần Quốc B.
2. Về quan hệ con chung:
Giao cháu Trần Huỳnh Quốc K sinh ngày 27/02/2017 (hiện cháu K đang sống với chị Q) cho chị Huỳnh Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Anh Trần Quốc B không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản.
Chị Huỳnh Thị Q phải tạo điều kiện cho anh Trần Quốc B được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về quan hệ tài sản:
- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Ghi nhận chị Huỳnh Thị Q và anh Trần Quốc B không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Huỳnh Thị Q và anh Trần Quốc B vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách là đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009130 ngày 05 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh An Giang.
5. Chị Huỳnh Thị Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Quốc B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã V, huyện T; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Minh Tâm |