vanban.org

Bản án 10/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Lệ K yệu cầu ly hôn và nuôi con chung với anh Đặng Văn L"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DMC
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 07-5-2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DMC - TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Hải Đường;

2. Bà Trịnh Thúy Cơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện DMC.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Nhã.

Ngày 07 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện DMC, Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 697/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐXX–ST ngày 01 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ K, sinh năm: 1981; địa chỉ cư trú: Ấp TB, xã TrM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Bị đơn: Anh Đặng Văn L, sinh năm: 1981; địa chỉ cư trú: Ấp TB, xã TrM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10-12-2018 và quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Lệ K trình bày:

Chị và anh L chung sống với nhau năm 2001, năm 2002 vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TrM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; vợ chồng xây nhà ở gần sát nhà cha mẹ ruột anh L tại ấp TB, xã TrM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh. Năm 2016 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên chị về nhà cha mẹ ruột tại ấp Thuận Tân, xã TrM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh ở và làm đơn yêu cầu ly hôn; Tòa án hòa giải chị rút đơn nhưng từ đó đến nay vợ chồng không ở chung; khoảng vài ngày chị về dọn vệ sinh nhà sau đó lại về nhà cha mẹ ruột ở. Nguyên nhân chị yêu cầu ly hôn với anh L là do anh L thường có tính trêu đùa phụ nữ, có nhiều mối quan hệ không trong sáng; chị đã khuyên anh L nhưng từ đó đến nay anh không thay đổi. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị và anh L có con chung tên Đặng Thị Kim Th, sinh ngày 14-8-2002; con đã lớn hiện đang học nghề uốn tóc, có nguyện vọng theo ai người đó nuôi; theo chị chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản hòa giải ngày 19-3-2019 (bút lục số 35-36) anh L trình bày:

Thời gian chung sống, kết hôn và ly thân như chị K trình bày là đúng. Anh thừa nhận mình có tính thường trêu đùa phụ nữ nhưng không có bất cứ mối quan hệ bất chính nào. Từ năm 2016 đến nay thì vợ chồng mạnh ai làm người ấy sống, không phụ thuộc lẫn nhau; anh có nhiều lần kêu chị K về ở chung nhưng chị K không đồng ý. Anh còn yêu thương vợ con nên mong muốn đoàn tụ, anh hứa sẽ thay đổi tính tình. nếu vợ chồng ly hôn thì về con chung Đặng Thị Kim Th, sinh ngày 14-8-2002 muốn theo ai thì người đó nuôi; theo anh thì anh nuôi không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa. Riêng đối với anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ K đối với anh Đặng Văn L; về con chung: Giao con chung Đặng Thị Kim Th, sinh ngày 14-8-2002 cho anh L nuôi dưỡng, ghi nhận anh L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng anh L cố tình vắng mặt không không có lý do chính đáng, áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh L. Anh L không thực hiện nghĩa vụ của đương sự quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại các Điều 91, 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị K và anh L tự nguyện chung sống với nhau năm 2001 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TrM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh nên công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn năm 2016 chị K làm đơn yêu cầu ly hôn với anh L, Tòa án đã hòa giải cho các đương sự đoàn tụ, tuy nhiên các bên về không chung sống với nhau, mỗi người ở một nơi; do anh L sống không chung thủy, chị K yêu cầu ly hôn với anh L. Mặc dù, anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không lý do, anh L mong muốn đoàn tụ nhưng không có thiện chí, không đưa ra được giải pháp. Xét thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K đối với anh L là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Xét nguyện vọng con chung Đặng Thị Kim Th, sinh ngày 14-8-2002 muốn sống cùng anh L và sự thỏa thuận của anh chị Hội đồng xét xử giao con chung cho anh L nuôi dưỡng; ghi nhận anh L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị K phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ K đối với anh Đặng Văn L. Chị K, anh L không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.

2. Về con chung: Anh Đặng Văn L được trực tiếp nuôi con chung Đặng Thị Kim Th, sinh ngày 14-8-2002. Ghi nhận anh L không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị K được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lệ K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh theo Biên lai thu số 0011229 ngày 17 tháng 12 năm 2018; (chị K đã nộp xong án phí).

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ