vanban.org

Bản án 10/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H. 1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn và nuôi con chung giữa Bùi Thị H với Hoàng Văn H"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢ PĂH
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HNGĐ-ST.
Ngày 24-6-2019.
“V/v Tranh chấp ly hôn và
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢ PĂH, TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Võ Nguyên Giác.

+ Ông Trịnh Văn Nguyên.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hà Văn Sáng – Là Thư ký tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh tham gia phiên tòa: Bà Tô Hải Yến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 130/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2018, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 05 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 27/05/2019, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn 6, xã Ia Nhin, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai; (có mặt).

-Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn 6, xã Ia Nhin, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên toà nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:

Vợ chồng chị H, anh H tự nguyện yêu nhau và chung sống với nhau từ năm 2002, đến ngày 19/10/2007, chị H với anh H đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Nhin,

1

huyện Chư Păh. Sau khi kết hôn thì chung sống hạnh phúc được một thời gian. Khoảng năm 2013, vợ chồng chị H, anh H thường xuyên bất đồng quan điểm luôn cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân chủ yếu do kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng không thể dung hòa được, anh H đi làm có tiền thì tiêu xài cho bản thân không đưa cho chị H để lo cho cuộc sống gia đình, chi phí ăn học con cái, một mình chị H tự làm và nuôi con, lo trang trải cuộc sống gia đình. Khi cãi vã nhau anh H đánh đập, đuổi chị H ra khỏi nhà, chị H đã nộp đơn khởi kiện 01 lần đến Tòa án xin ly hôn nhưng mỗi lần như vậy anh H không chịu đến Tòa án giải quyết mà lại đánh đập, hăm dọa chị H buộc chị H phải rút đơn về. Đầu năm 2018 anh H đánh đập chị H và các con, chị H báo Công an xã, chính quyền đến can thiệp, đến nay mẹ con chị H phải vào Bình Dương sinh sống riêng, vợ chồng đã sống ly thân, phần ai tự làm ăn không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay chị H xét thấy không còn tình cảm với anh H nữa, mâu thuẫn của vợ chồng chị H quá trầm trọng, chị H không dám về nhà, chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị H với anh H có 03 con chung là: Hoàng Thị Phương T, sinh ngày 20/10/2002; Hoàng Thị Diệu N, sinh ngày 21/9/2007 và Hoàng Quý Ng, sinh ngày 08/3/2016. Sau khi ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi cả 03 con chung.

Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cho chị H.

Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: Chị H tự thỏa thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Hoàng Văn H: Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hoà giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh H (niêm yết công khai) theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh H không đến Toà án để làm việc, không cung cấp cho Toà án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chƣ Păh, phát biểu quan điểm nhƣ sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 93, 94, 95, 96, 97, 195, 196, 203, 220 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Thẩm phán, HĐXX, Thư ký tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình theo đúng quy định bộ luật Tố tụng dân sự.

2

-Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX nghị án; Nguyên đơn đã chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt. Tại phiên tòa bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, do đó HĐXX vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Về hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật HNGĐ, Đề nghị HĐXX chấp nhận cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

*Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ; xét nguyện vọng của các cháu Hoàng Thị Phương T, sinh ngày 20/10/2002; Hoàng Thị Diệu N, sinh ngày 21/9/2007, đề nghị HĐXX giáo 03 cháu cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh Hướng cấp dưỡng nên không xem xét.

*Tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: chị H không yêu cầu nên không xem xét.

* Về án phí: Buộc chị Bùi Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Bùi Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Văn H, có nơi cư trú là thôn 6, xã Ia Nhin, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Vì vậy đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh Hoàng Văn H hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh H.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Yêu cầu ly hôn: Chị Bùi Thị H và anh Hoàng Văn H tự nguyện yêu nhau và chung sống với nhau từ năm 2002, đến ngày 19/10/2007 chị H với anh H đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Nhin, huyện Chư Păh. Do đó, hôn nhân giữa chị H với anh H là hợp pháp, theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống với anh H, nhận thấy mâu thuẫn phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hoà giải, Thông báo về phiên họp

3

kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh H đến Tòa án để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình, nhưng anh H không đến Toà án làm việc, không gửi cho Toà án văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị H và tại phiên toà hôm nay anh H vắng mặt. Như vậy anh H không có thiện chí mong muốn được hòa giải đoàn tụ với chị H.

Xét thấy, Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng chia sẻ. Anh H, chị H nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, chính quyền cơ sở cũng đã hòa giải nhiều lần, trước đây Tòa án cũng đã hòa giải và chị H rút đơn về đoàn tụ nhưng cũng không hạnh phúc. Đây là lần thứ hai chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Anh H, chị H đã hơn 01 năm qua đôi bên không liên lạc, không còn quan tâm đến nhau, làm cho mâu thuẫn tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị H yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về con chung: Anh H và chị H có 03 con chung là: Hoàng Thị Phương T, sinh ngày 20/10/2002; Hoàng Thị Diệu N, sinh ngày 21/9/2007 và Hoàng Quý Ng, sinh ngày 08/3/2016 hiện nay đang sống với chị H, chị H nhận chăm sóc nuôi dưỡng và nguyện vọng của các con muốn được sống với mẹ nên giao 03 con chung cho chị H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình;

-Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

4

1.2 Về con chung: Giao các cháu Hoàng Thị Phương T, sinh ngày 20/10/2002; Hoàng Thị Diệu N, sinh ngày 21/9/2007 và Hoàng Quý Ng, sinh ngày 08/3/2016, cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi có căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt việc nuôi con.

1.3 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

1.4 Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung: Chị Bùi Thị H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

1.5 Về án phí: Buộc chị Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 300.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002579, ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.

2. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/6/2019) nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ