- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị G được ly hôn anh Lê Đức B
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2019/HNGĐ-ST Ngày 20/3/2019 Về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN TRIỆU SƠN – TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Long và bà Nguyễn Thị Trúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Sỹ Vĩ, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 20/3/2019,tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thụ lý số 314/2018TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25/02/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị G - Sinh năm 1991, có mặt.
Quê quán: xã BS, huyện TS, tỉnh Thanh Hóa
Chổ ở hiện nay: Thôn N, xã CK, huyện NT, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn:
Anh Lê Đức B - Sinh năm 1977
Nơi cứ trú cuối cùng: Thôn X, xã TT, huyện TS,tỉnh Thanh Hóa vắng mặt
lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*> Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay. Nguyên đơn chị Hà Thị G trình bày, chị G và anh B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 31/5/2010 tại UBND xã Bình Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, cuối năm 2010 mâu thuẫn trầm trọng, anh B bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì, gia đình và người thân không biết tin tức hiện nay anh B ở đâu ở đâu, chị G đã thực hiện các biện pháp tìm kiếm nhưng không có kết quả, tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 17/2018/QĐDS-ST ngày 23/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn đã tuyên bố anh B mất tích, nay chị G yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn giải quyết cho anh được ly hôn anh B theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị G trình bày, vợ chồng có một con chung cháu Lê Thị Á, sinh ngày 05/8/2009, từ khi anh B bỏ đi, cháu Á ở với chị G, nay chị xin tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con Về tài sản và nợ: Chị G trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết *> Đối với bị đơn anh Lê Đức B, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cứ trú cuối cùng của anh B và tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đối với bị đơn anh Lê Đức B, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật tại nơi cư trú cuối cùng của anh Lê Đức B thôn X, xã TT, huyện TS và tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn để anh B biết thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, ngày 25/02/2109, Tòa án đưa vụ án ra xét xử nhưng anh B vắng mặt nên đã quyết định hoãn phiên tòa và tiến hành niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa, tại phiên tòa hôm nay anh B vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điểu 207 và khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết, xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Chị Hà Thị G và anh Lê Đức B kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 31/5/2010 tại UBND xã Bình Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh hóa nên là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn trầm trọng anh B bỏ nhà đi chị Gắng chờ đợi và tìm kiếm nhiều năm nhưng không có tin tức gì, tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 17/2018/QĐDS-ST ngày 23/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn đã tuyên bố anh Lê Đức B mất tích, nay chị Gắng yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Bạch, yêu cầu của chị Gắng phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Gắng, xử cho chị Hà Thị G được ly hôn anh Lê Đức B.
Về con cái: Vợ chồng có một con chung cháu Lê Thị Á, sinh ngày 05/8/2009, từ khi anh Bạch bỏ đi cháu Á ở với chị G, nay vợ chồng ly hôn chị Gắng yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh Bạch cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Gắng là thực tế vì anh B đã mất tích, cháu khỏe mạnh học tập,bình thường, giao chị G tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lê Thị Á, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con, vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh B được quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản: Chị G không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Hà Thị G phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lý lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 4 Điều 147,Điều 207 Điều 273, 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự; Khoản 2 Điều 56, 57, 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 1 Điều 24, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị G được ly hôn anh Lê Đức B
Về con cái: Giao chị Hà Thị G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung của vợ chồng cháu Lê Thị Á, sinh ngày 05/8/2009, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con, vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh B được quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản: Chị G không yêu cầu tòa giải quyết.
Về án phí: Chị Hà Thị G phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 5265 ngày 07/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa, chị G đã nộp đủ án phí.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Triệu Sơn; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện Triệu Sơn; - Các đương sự; - UBND xã Bình Sơn; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hợp |