vanban.org

Bản án 10/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "thay đổi nuôi con"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!
HUYỆN!D!!
TỈNH!KHÁNH!HÒA
Bản án số:10/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 06-6-2019
V/v “Thay đổi người trực tiếp

nuôi con sau khi ly hôn”.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!D!-!TỈNH!KHÁNH!HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tín,

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hưởng,

Ông Trần Văn Trân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện D - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 36/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2019 về “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn N - Sinh năm: 1985, “có mặt”,

Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị L

- Sinh năm: 1994, “có mặt”

Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!!

Trong đơn khởi kiện ngày 07/3/2019, bản tự khai ngày và biên bản đối chất ngày 21/3/2019, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Nhựt trình bày: Theo bản án hôn nhân gia đình số 90/2016/HNGĐ - ST ngày 12/9/2016 của Tòa án nhân dân thị xã N, ông được ly hôn với bà Phạm Thị L, bà Phạm Thị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Phạm Hoài A (sinh ngày 26/3/2011) và Nguyễn Phạm Yến H (sinh ngày 16/6/2013) cho đến khi con chung trưởng thành, ghi nhận sự tự nguyện bà L không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con chung. Nhưng do ông bận công việc làm ăn nên ông vắng mặt tại phiên tòa, ông chưa trình bày được nguyện vọng và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Tuy nhiên, ông đã trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng Nguyễn Phạm Hoài A từ ngày ly hôn cho đến nay. Cháu A đang học tập có thành tích tốt và đang sinh sống cùng với ông tại thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Nguyễn Phạm Hoài A cũng có nguyện vọng được ông là người trực tiếp nuôi dưỡng. Ông có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để trực tiếp nuôi Nguyễn Phạm Hoài A. Do đó, ông yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cụ thể: ông yêu cầu được trực tiếp nuôi Nguyễn Phạm Hoài A (sinh ngày 26/3/2011) và không yêu cầu bà Phạm Thị L cấp dưỡng nuôi con chung, đồng ý để bà L tiếp tục trực tiếp nuôi Nguyễn Phạm Yến H (sinh ngày 16/6/2013) theo bản án nêu trên.

Tại bản tự khai và biên bản đối chất ngày 21/3/2019, bị đơn bà Phạm Thị L trình bày: Bà không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi bà được giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung theo bản án hôn nhân gia đình số 90/2016/HNGĐ - ST ngày 12/9/2016 của Tòa án nhân dân thị xã N, nhưng ông N và gia đình ông N đã bắt cháu A về nhà nuôi, không cho bà thực hiện quyền trực tiếp nuôi con chung, ngăn cản việc thăm nom và chăm sóc con chung, không cho cháu A về thăm ông bà ngoại và nhận bất kỳ quà gì do bà gửi, hạn chế quyền làm mẹ của bà. Bà đã có yêu cầu thi hành án để đem cháu A về nuôi nhưng chưa thi hành được. Bản thân ông Nguyễn Tấn N thường xuyên uống bia rượu, không quan tâm, chăm sóc con chung, gây gỗ đánh nhau bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển của con. Ông N đã có gia đình riêng, để con ở nhà với ông bà nội nên chăm sóc con chung thiếu chu đáo. Bà có công việc và có thu nhập ổn định hàng tháng. Do đó, bà đề nghị Tòa án tạo điều kiện giải quyết cho bà được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phạm Hoài A theo như phán quyết tại bản án số 90/2016/HNGĐ - ST ngày 12/9/2016 của Tòa án nhân dân thị xã N

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn giữ nguyên yêu cầu và ý kiến nêu trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Sau!khi!nghieân!cöùu!caùc!taøi!lieäu!coù!trong!hoà!sô!vuï!aùn!vaø!ñöôïc!thaåm!tra!taïi! phieân!toøa,!Hoäi!ñoàng!xeùt!xöû!nhaän!định:

[1]. Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

Bản án hôn nhân gia đình số 90/2016/HNGĐ - ST ngày 12/9/2016 của Tòa án nhân dân thị xã N giao cho bà Phạm Thị L trực tiếp nuôi hai con chung nhưng thực tế từ ngày ly hôn cho đến nay, bà L trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Phạm Yến H, còn Nguyễn Phạm Hoài A đang được ông Nguyễn Tấn N trực tiếp nuôi, cháu A cũng có nguyện vọng được ông N là người trực tiếp nuôi dưỡng. Ủy ban nhân phường Đ đã xác nhận: hiện tại ông N chưa đăng ký kết hôn với ai, có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố P. Cháu A là học sinh xuất sắc nhiều năm liên tục, cho thấy cháu A được ông N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng tốt.

Việc bà L trình bày ông N có vợ khác, không quan tâm chăm sóc con chung nhưng bà L không cung cấp thêm chứng cứ nào khác nên lời trình bày của bà L là chưa có cơ sở.

Do đó, cần thay đổi về người trực tiếp nuôi con chung tại bản án số 90/2016/HNGĐ-ST ngày 12/9/2016 của Tòa án nhân dân thị xã N cho phù hợp thục tế và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao con chung Nguyễn Phạm Hoài A cho ông Nguyễn Tấn N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phạm Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Ông Nguyễn Tấn N không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với con chung Nguyễn Phạm Yến H (sinh ngày 16/6/2013) không ai yêu cầu thay đổi về người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về án phí: Ông Nguyễn Tấn N phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

!

-!Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 3 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn N.

- Giao con chung Nguyễn Phạm Hoài A (sinh ngày 26/3/2011) cho ông Nguyễn Tấn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Ông N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Phạm Hoài A của bà L.

- Bà Phạm Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, ông Nguyễn Tấn N, bà Phạm Thị L đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Tấn N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0002535 ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D. Do đó, ông N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành, theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ