- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Bà Dương Thị Th, sinh năm 1978 - Bị đơn Ông Nguyễn Trường A, sinh năm 1978"
- Tòa quyết gì? [1] Về quA hệ hôn nhân: Không công nhận bà Dương Thị Th và ông Nguyễn Trường A là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số:10/2019/HNGĐ-ST Ngày: 15/5/2019 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Trọng Điền;
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đại Nam, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị Th, sinh năm 1978, địa chỉ: số 397, ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Trường A, sinh năm 1978, địa chỉ: số 406, tổ 11, khóm D, phường T, thành phố D, tỉnh A GiAg.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ph – Luật sư, Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn Ph thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A GiAg.
Bà Th, ông A, Luật sư Nguyễn Văn Ph vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Dương Thị Th trình bày: Vào năm 1997, bà Th và ông A do quen biết nên chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung, bà Th và ông A phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quA điểm sống nên xảy ra cãi nhau. Bà Th và ông A đã không còn sống chung với nhau từ năm 2007 cho đến nay. Tình cảm giữa bà Th đối với ông A không còn nên bà Th yêu cầu ly hôn với ông A.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Th và ông A có 01 con chung tên Nguyễn Thị Vân Ah, sinh ngày 13/4/1998 (đã trưởng thành).
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Trường A trình bày: Thống nhất về thời giA và điều kiện đi đến cuộc sống chung của ông A và bà Th như bà Th trình bày. Trong thời giA chung sống, ông A và bà Th phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quA điểm sống nên sống chung không hạnh phúc. Hiện nay, ông A và bà Th đã không còn sống chung với nhau từ năm 2007 cho đến nay. Tình cảm của ông A và bà Th không thể hàn gắn đoàn tụ gia đình nên ông A đồng ý ly hôn với bà Th.
Về con chung: Thống nhất với lời trình bày của bà Th giữa ông A và bà Th có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Vân Ah, sinh ngày 13/4/1998 (đã trưởng thành).
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Dương Thị Th và ông Nguyễn Trường A chung sống với nhau vào năm 1997 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không tiến hành hòa giải về quA hệ hôn nhân giữa bà Th, ông A.
* Tại phiên tòa:
- Thẩm phán công bố bản tự khai của nguyên đơn, biên bản lời khai bị đơn.
- Phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; nguyên đơn, bị đơn và gnuwoif bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án và có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, có cơ sở xác định, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997, không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, không công nhận nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng.
Về con chung: Bà Th và ông A có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Vân Ah, sinh ngày 13/4/1998 (đã trưởng thành) nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Th và ông A khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
*Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Bà Dương Thị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trường A. Ông A có nơi cư trú trên địa bàn thành phố Châu Đốc. Xét đây là trAh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
*Về nội dung:
QuA hệ hôn nhân, bà Dương Thị Th và ông Nguyễn Trường A do quen biết nên chung sống với nhau vào năm 1997, không đăng ký kết hôn.
Theo giấy xác minh ngày 01/4/2019 của Ủy bA nhân dân phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh A GiAg: Bà Dương Thị Th và ông Nguyễn Trường A chưa đăng ký kết hôn tại Ủy bA nhân dân phường Châu Phú A.
Theo giấy xác minh ngày 25/01/2019 của Ủy bA nhân dân xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh A GiAg: Bà Dương Thị Th và ông Nguyễn Trường A chưa đăng ký kết hôn tại Ủy bA nhân dân xã Nhơn Mỹ.
Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân - gia đình năm 2014 quy định:“Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng’’.
Tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân - gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quA hệ vợ chồng”.
Bà Dương Thị Th và ông Nguyễn Trường A sống chung với nhau từ năm 1997, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét, không công nhận bà Dương Thị Th và ông Nguyễn Trường A là vợ chồng.
Về con chung: Nguyễn Thị Vân Ah, sinh ngày 13/4/1998. Con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung, bà Th và ông A khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Th phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Th đã nộp. Ông A không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
[1] Về quA hệ hôn nhân: Không công nhận bà Dương Thị Th và ông Nguyễn Trường A là vợ chồng.
[2] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Dương Thị Th phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số TU/2016/0007788 ngày 18 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; Bà Dương Thị Th đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Trường A không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[3] Thời hạn kháng cáo của bà Dương Thị Th và ông Nguyễn Trường A là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TP. Châu Đốc (2); - TAD tỉnh A GiAg (1); - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Tiền |