- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Th - Võ Thái Ng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Th được ly hôn với anh Võ Thái Ng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2019/HNGĐ-ST Ngày: 12-4-2019. V/v: “tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vàng Huy Lập
2. Ông Vương Xuân Tượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Linh – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Dĩ Ly Đan – Kiểm sát viên.
Ngày 12/4/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 769/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 05/3/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Th, sinh năm 1993.
Địa chỉ: thôn A, xã X, huyện Đ, tỉnh L.
Bị đơn: Anh Võ Thái Ng, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Số G4, đường A, tỉnh B, phường C, thành phố L, tỉnh Đ.
(Chị Th, anh Ng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Thái Ng kết hôn vào năm 11/6/2012 tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Đ, tỉnh L, hôn nhân tự nguyện, không tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại số Số G4, đường A, tỉnh B, phường C, thành phố L, tỉnh Đ. Cuộc sống vợ chồng hòa Thận, hạnh phúc được đến năm 2014 thì phát sinh mâu Thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi vã, có lần xảy ra sô xát, ông Ng nhiều lần đánh đập chị. Đến khoảng năm 2016 ông Ng đánh và đuổi chị ra khỏi nhà nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở huyện Đ sống. Mẹ chồng của chị trình bày chị không quan tâm đến gia đình, con cái và có quan hệ với người khác bên ngoài là không đúng. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Võ Thái Ng.
Về con chung: Có hai con chung tên Võ Kim Th, sinh ngày 05/5/2012 và Võ Nhật Bảo H, sinh ngày 19/12/2014. Hiện hai con đang được ông Võ Thái Ng nuôi dưỡng, sau khi ly hôn chị đồng ý để anh Võ Thái Ng nuôi dưỡng để thuận tiện cho việc đi học của hai con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th xác định không có tài sản chung.
Tại phiên tòa, chị Trần Thị Th vẫn giữ Ng yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn anh Võ Thái Ng đã được triệu tập hợp lệ tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Võ Thái Ng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, nguyên đơn, bị đơn và Th thập chứng cứ theo đúng quy định tại các Điều 28, 35, 68, 96, 97, Điều 208 đến Điều 211 và Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ng đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 và 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị Trần Thị Th và anh Võ Thái Ng đã đến mức trầm trọng, không thể níu kéo nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th, xử cho chị Th và anh Ng được ly hôn, giao hai con chung tên Võ Kim Th Th, sinh ngày 05/5/2012 và Võ Nhật Bảo H, sinh ngày 19/12/2014 cho anh Võ Thái Ng trực tiếp nuôi cho đến khi trưởng thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc“tranh chấp ly hôn” giữa Ng đơn chị Trần Thị Th với bị đơn anh Võ Thái Ng theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Thộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Võ Thái Ng đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh Ng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Ng.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh Ng là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống theo chị Th trình bày giữa chị Th và anh Ng thường xuyên xảy ra mâu Thuẫn, cãi vã nhau, hiện nay không còn chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Ng nhưng anh Ng không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của chị Th cho thấy anh Ng không có thiện chí hòa giải, hàn gắn gia đình. Qua xác minh bà Nguyễn Thị Kim Phượng (mẹ ông Ng) trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng anh Ng, chị Th chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2016 thì phát sinh mâu Thuẫn do chị Th đi làm không quan tâm đến gia đình và con cái, có quan hệ khác bên ngoài nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi vã, ông Ng nóng nảy có lần đánh chị Th vì ghen tuông, hiện nay chị Th đã bỏ nhà đi. Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung Thỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa chị Trần Thị Thvà anh Võ Thái Ng mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn sự quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Th được ly hôn với anh Võ Thái NgNg là phù hợp và đúng pháp luật.
Về con chung: Chị Th và anh Ng có hai con chung tên tên Võ Kim Th Th, sinh ngày 05/5/2012 và Võ Nhật Bảo H, sinh ngày 19/12/2014. Xét thấy, hiện nay con chung còn nhỏ, đang có cuộc sống ổn định với anh Ng và chị Th đồng ý giao hai con chung cho anh Ng trực tiếp nuôi dưỡng, vì vậy cần giao hai con chung cho anh Võ Thái Ng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th xác định không có.
Về án phí: Buộc chị Trần Thị Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Th được ly hôn với anh Võ Thái Ng.
2. Về con chung: Giao hai con chung tên Võ Kim Th, sinh ngày 05/5/2012 và Võ Nhật Bảo H, sinh ngày 19/12/2014 cho anh Võ Thái Ng trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi hai con đủ mười tám tuổi.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0008726 ngày 05/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Thận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Trần Thị Th có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm, anh Võ Thái Ng vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS thành phố Đà Lạt; - THADS thành phố Đà Lạt; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - UBND phường A, thành phố L, tỉnh Đ. - Lưu AV, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Vân Hồng |