vanban.org

Bản án 10/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP KL đối với ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T.

Buộc ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T trả cho Ngân hàng TMCP KL số tiền 10.243.749 đồng (Mười triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi chín đồng). Kể từ ngày 19/3/2019, khách hang vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và tiền lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ds"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP KL đối với ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/DS-ST
Ngày: 19–3–2019
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Văn Hành

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc San là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2018/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần KL

Địa chỉ: Số 40 – 42 – 44 PHT, Phường VTV, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A, Chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mạch Quốc P, Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Cà Mau.

Người địa diện theo ủy quyền của ông Phong: ông Nguyễn Bé L, sinh năm 1975 (Có mặt).

Địa chỉ: Số 26 - 28 PNH, Phường x, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tú T, sinh năm 1987 (Vắng mặt).

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Khóm x, thị trấn CN, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 26/01/2018 Ngân hàng TMCP KL có ký hợp đồng tín dụng số A423562/HĐTD-CC và A423564/HĐTD-CC cho ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T vay số tiền 20.000.000 đồng, ngày giải ngân 28/01/2018, thời hạn vay 180 ngày kể từ ngày ký nhận nợ, lãi suất trong hạn 14,94%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Hình thức thanh toán là bên vay trả góp vốn gốc và lãi cho Ngân hàng theo định kỳ hàng ngày kể từ ngày 29/01/2018 đến ngày 26/7/2018. Tài sản thế chấp để đảm bảo cho hợp đồng vay là 01 xe máy hiệu Wave RSX biển kiểm soát 69E1 - 221.86. Từ khi vay đến nay ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T chỉ thanh toán được 105 ngày, còn lại 75 ngày chưa thanh toán với số tiền vốn gốc là 8.333.333 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T trả số tiền 10.243.749 đồng (Trong đó, vốn gốc 8.333.333 đồng, lãi trong hạn 613.973 đồng, phạt gốc và lãi quá hạn đến ngày 19/3/2019 là 1.296.443 đồng).

Đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận định:

Về tố tụng: ông Nguyễn Văn Thọ và chị Nguyễn Thị Tú Trang đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án, nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP K L với bị đơn ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T là quan hệ pháp luật về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Do bị đơn có địa chỉ cư trú tại Khóm x, thị trấn CN, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Giao dịch giữa các bên thực hiện ngày 26/01/2018, sau đó ông T và chị T có trả được 105 kỳ, thì không trả nữa. Như vậy, đến ngày 03/12/2018 Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện ông T và chị T tại Tòa án là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự.

Về nội dung vụ án: Vào ngày 26/01/2018 Ngân hàng TMCP KL có ký hợp đồng tín dụng số A423562/HĐTD-CC và A423564/HĐTD-CC cho ông Nguyễn Văn Tvà chị Nguyễn Thị Tú T vay số tiền 20.000.000 đồng, ngày giải ngân 28/01/2018, thời hạn vay 180 ngày kể từ ngày ký nhận nợ, lãi suất trong hạn 14,94%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Hình thức thanh toán là bên vay trả góp vốn gốc và lãi cho Ngân hàng theo định kỳ hàng ngày kể từ ngày 29/01/2018 đến ngày 26/7/2018. Nhưng từ khi vay đến nay ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T chỉ thanh toán được 105 ngày, còn lại 75 ngày chưa thanh toán với số tiền vốn gốc là 8.333.333 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T trả số tiền 10.243.749 đồng (Trong đó, vốn gốc 8.333.333 đồng, lãi trong hạn 613.973 đồng, phạt gốc và lãi quá hạn đến ngày 19/3/2019 là 1.296.443 đồng) là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T trả cho Ngân hàng TMCP KL số tiền 10.243.749 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự; Các Điều 429, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP KL đối với ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T.

Buộc ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T trả cho Ngân hàng TMCP KL số tiền 10.243.749 đồng (Mười triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi chín đồng).

Kể từ ngày 19/3/2019, khách hang vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và tiền lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Tú T phải chịu 512.187 đồng (Năm trăm mười hai nghìn đồng). Ngân hàng TMCP KL không phải chịu án phí, ngày 03/12/2018 có dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0004930 ngày 03/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ