- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "anh N ông H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nh n kháng cáo của anh Đăng Anh N, ông Thái Đình Huy giữ nguyên bản án sơ.
- Căn cứ chính? Điều 13 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2019/DS-PT Ngày: 19 – 3 – 2019 V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thường.
Các Thẩm phán:
Bà Hồ Tuấn Anh;
Ông Võ Công Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phương Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2019/TLPT-DS ngày 07 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2018/DS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Toà án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 25/2019/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đặng Anh N; có mặt.
Chị Đinh Thị Tường V; có mặt.
Cùng cư trú tại: Khu vực A, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn:
1. Ông Thái Đình H; cư trú tại Khu vực Phò A, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Người đại diện hợp pháp của Ông Thái Đình H: Chị Thái Ngọc H; cư trú tại Khu vực Phò A, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định là người đại di n theo ủy quyền của Ông H (Văn bản ủy quyền số 5243 ngày 22/11/2018); có mặt.
Người o vệ quy n ợi ch hợp pháp của Ông Thái Đình H: Bà Nguy n Tr n Phương T là Lu t sư của văn phòng Lu t sư Nguy n Tr n thu c đoàn Lu t sư tỉnh Bình Định.
2. Anh Thái Bá D, sinh năm 1990; cư trú tại Khu vực Phò A, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Người có quy n ợi nghĩa vụ iên quan: Bà Tr n Phương H, sinh năm 1969; cư trú tại Khu vực Phò A, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; v ng mặt.
Người kháng cáo: Anh Đặng Anh N là nguyên đơn và Ông Thái Đình H là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các ời khai trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn vợ chồng anh Đặng Anh N và Chị Đinh Thị Tường V, trình bày:
Vào cuối tháng 4 năm 2018 giữa vợ chồng anh với ông Thái Đình H có thỏa thu n về vi c mua bán nhà và đất, ông H đưa sổ đỏ photocopy chủ sử dụng đất còn đứng tên của ông H, ph n những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nh n thì có dòng chữ ghi “Đã chuyển cho Thái Bá D” ông H nói về sẽ bàn bạc và thỏa thu n với gia đình, thống nhất về giá mua bán và tiền cọc. Đến ngày 07/5/2018 ông H có đem giấy nh n tiền cọc có cả chữ ký của ông và con trai là Thái Bá Duy với n i dung thỏa thu n mua bán và chuyển nhượng nhà và đất thu c thửa 1512, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại khu vực Phò A, phường N với giá thỏa thu n là 800.000.000 đồng, cùng ngày ông H nh n tiền đặt cọc 100.000.000 đồng, thỏa thu n trong 20 ngày sẽ tiếp tục vi c mua bán chuyển nhượng trên, nếu bên nào không thực hi n đúng theo hợp đồng đã ký kết thì chịu mất đúng số tiền đã cọc, nhưng sau đó bên nh n đặt cọc không làm thủ tục đã vi phạm n i dung thỏa thu n. Nay vợ chồng anh chị yêu c u ông H và anh D hoàn trả lại 100.000.000 đồng và bồi thường như trong giấy thỏa thu n.
Tại n tự khai iên n ấy ời khai iên n hòa gi i và trong quá trình xét xử chị Thái Ngọc H à người đại diện hợp pháp theo ủy quy n của ị đơn ông Thái Đình H, trình bày:
Vào khoảng năm 2016, ông không nhớ thời gian cụ thể nhưng ông H có vay của chị V ba l n, tổng số tiền vay 65.000.000 đồng, trong đó có hai l n vay, mỗi l n vay 20.000.000 đồng và m t l n vay 25.000.000 đồng, khi vay ông H có viết giấy mượn tiền, vay không thời hạn, mức lãi suất vay tự thỏa thu n là 7%/ tháng, mục đích vay là để đ u tư cây cảnh, làm kinh tế gia đình nhưng không có hi u quả. Sau nhiều l n chị V đòi nợ nhưng ông không có tiền trả, chị V có đề nghị với ông là thỏa thu n mua bán nhà và đất trên, ông có đưa bản photocopy sổ đỏ cũ do ông đứng tên, chị V đồng ý mua giá nhà và đất là 800.000.000 đồng, ông tự ghi giấy nh n tiền cọc và có ghi tên và giả cả chữ ký con trai Thái Bá D rồi ông đưa giấy này cho vợ chồng chị V. Số tiền cọc ông không có nh n mà tính từ số tiền vay gốc 65.000.000 đồng và tiền lãi. Mục đích viết giấy đặt cọc là để cho chị V kéo dài thời gian trả nợ vay. Khi đưa giấy đặt cọc ông có nói cho vợ chồng chị V biết là ông giả chữ ký của con trai và vợ chồng chị V không đồng ý nên ông coi đó là bản nháp. Tại thời điểm viết giấy cọc, anh D đang ở Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi viết giấy ông thông báo cho anh D nhưng không đồng ý bán. Ông xác định giấy đặt cọc mà vợ chồng chị V cung cấp khởi ki n đúng là do ông viết, còn điền thông tin về Chứng minh nhân dân là do anh N ghi sau, cùng thời điểm ông viết hai giấy nh n đặt cọc ông giữ m t giấy. Các giấy mượn tiền là chị V cất giữ, có vài l n chị V nh n tin qua đi n thoại đề nghị ông trả tiền lãi. Nay ông không chấp nh n yêu c u của vợ chồng anh N và chị V về thanh toán tiền cọc và tiền bồi thường mà chỉ chấp nh n trả tiền vay gốc 65.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất ngân hàng, xin trả d n hàng tháng, mỗi tháng trả 4.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Tại n tự khai iên n ấy ời khai iên n hòa gi i và trong quá trình xét xử ị đơn Anh Thái Bá D, trình bày:
Thống nhất lời khai của ông H cha anh.
Tại n tự khai iên n ấy ời khai iên n hòa gi i và trong quá trình xét xử người có quy n ợi nghĩa vụ iên quan Bà Trần Phương H, trình bày:
Thống nhất lời khai của Ông H chồng bà.
B n án dân sự sơ thẩm số 94/2018/DS-ST ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định quyết định:
Tuyên bố giấy nh n tiền cọc ngày 07/5/2018 giữa anh N, chị V với ông H vô hi u.
Bu c ông H, bà H trả cho anh N, chị V 105.534.000 đồng.
Bác yêu c u của ông H, bà H xin trả d n mỗi tháng 4.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 10/12/018, anh Đặng Anh N kháng cáo yêu c u ông H hoàn trả lại tiền cọc 100.000.000 đồng và bồi thường 100.000.000 đồng.
Ngày 11/12/2018, ông Thái Đình H kháng cáo chỉ chấp nh n trả 65.000.000 đồng, trả d n mỗi tháng 4.000.000 đồng và xin mi n giảm án phí.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hi n đúng quy định của pháp lu t tố tụng; đồng thời đề nghị không chấp nh n kháng cáo của anh N, ông H giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
n sơ thẩm tuyên bố giấy nh n tiền cọc ngày 07/5/2018 giữa anh N, chị V với ông H vô hi u là có căn cứ đúng quy định pháp lu t. Bởi lẽ: Theo Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản g n liền với đất thì thửa đất số 1512, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại Phò A, N được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định cấp cho ông Thái Đình H vào ngày 30/5/2016, nguồn gốc được tặng cho, sau khi cấp giấy thì có sự thay đổi vào ngày 12/7/2016 tài sản trên ông H đã tặng cho anh Thái Bá D; trong khi đó anh D không ký và cũng không thõa thu n với anh N về vi c đặc cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên theo quy định tại Điều 117 BLDS về điều ki n có hi u lực của giao dịch dân sự, Điều 122 BLDS giao dịch dân sự không có m t trong các điều ki n được quy định tại Điều 117 của b lu t này thì vô hi u từ khi giao dịch được xác l p.
2 n sơ thẩm bu c vợ chồng ông H và bà H có nghĩa vụ trả cho vợ chồng anh N và chị V tiền cọc 100.000.000 đồng và bồi thường 5.534.000 đồng, tổng c ng 105.534.000 đồng là có căn cứ đúng quy định pháp lu t. Bởi lẽ: Giấy đặt cọc mà nguyên đơn khởi ki n n p ông H thừa nh n toàn b n i dung trên là do ông H viết ký và có đoạn ghi “gia đình ông N đặt cọc trước cho chúng tôi số tiền 100.000.000đ…”, trong khi đó ông H cho r ng không nh n tiền cọc, do nợ tiền chuyển sang đặc cọc, nhưng vợ chồng anh N không thừa nh n, ông H không có chứng chứng minh nên có căn cứ mà xác định ông H có nh n tiền cọc 100.000.000đ. Mặc khác, khi giao dịch vô hi u theo Điều 131 BLDS, giao dịch vô hi u không làm phát sinh thay đổi chấm dứt quyền nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác l p các bên khôi phục lại tình trạng ban đ u hoàn trả cho nhau những gì đã nh n, bên có lỗi gây thi t hại thì phải bồi thường nên ông H phải có nghĩa vụ trả tiền 100.000.000đ và tiền lãi kể từ ngày nh n tiền (ngày 07/5/2018) cho đến nay với lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS là 5.534.000đ; vì ông H có hành vi lừa dối trong giao dịch. Hơn nữa, theo Điều 27 và Điều 37 Lu t hôn nhân gia đình thì vợ chồng ông H, bà H phải cùng có nghĩa vụ thanh toán số tiền trên.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 13, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i khóa 14 thì không chấp nh n kháng cáo xin giảm án phí của ông H nên vợ chồng ông H phải chịu 5.276.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4 Do kháng cáo không được chấp nh n theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i khóa 14 thì anh N, ông H mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Lu t sư bảo v quyền, lợi ích hợp pháp của ông Thái Đình H đề nghị không chấp nh n kháng cáo của ông H là không phù hợp với nh n định trên của H i đồng xét xử nên không chấp nh n.
[6 Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu đề nghị không chấp nh n kháng cáo của anh N, ông H giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nh n định trên của H i đồng xét xử nên chấp nh n.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 B lu t Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 131 B lu t Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 13, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i. Tuyên xử:
Không chấp nh n kháng cáo của anh Đăng Anh N, ông Thái Đình Huy giữ nguyên bản án sơ.
1. Tuyên bố giấy nh n tiền cọc ngày 07/5/2018 giữa anh Đặng Anh N, chị Đinh Thị Tường V với Ông Thái Đình H vô hi u.
2. Bu c ông Thái Đình H, bà Tr n Phương H có nghĩa vụ trả cho anh Đặng Anh N, chị Đinh Thị Tường V 105.534.000 đồng (M t trăm lẻ năm tri u năm trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
3. Về án phí:
3.1. Ông Thái Đình H, bà Tr n Phương H phải chịu 5.276.700 đồng (Năm tri u hai trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Anh Đặng Anh N được nh n lại 5.000.000 đồng (Năm tri u đồng) tiền tạm ứng đã n p theo biên lai thu tiền số 0008709 ngày 08/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.
3.3. Anh Đặng Anh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ 300.000đ tạm ứng đã n p theo biên lai thu tiền số 0008839 ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, anh N đã n p xong.
3.4. Ông Thái Đình H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ 300.000đ tạm ứng đã n p theo biên lai thu tiền số 0008841 ngày 11/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, ông H đã n p xong.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
4.1. Kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 B lu t Dân sự năm 2015.
4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Lu t Thi hành án Dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án Dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Định; - TAND thị xã A; - CCTHADS thị xã A; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Tòa dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thường |