- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án vay tài sản giữa anh N và chị D"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2018/ST-DS Ngày 06- 3-2018 V/v “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Th m phán- Ch t a phiên tòa: Bà Trương Thị Bình.
Các H i th m nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thản;
2. Bà Trần Ánh Nhạn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Hiếu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Minh- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2017/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2017, về “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2018/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST-DS ngày 09 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm: 1973; địa chỉ cư trú: Tổ 35, ấp CA, xã CG, huyện GD, tỉnh Tây Ninh; có mặt
- Bị đơn: Chị Phạm Thị Thùy D, sinh năm: 1981; địa chỉ cư trú: Tổ 35, ấp CA, xã CG, huyện GD, Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ N:
Theo đơn khởi kiện ngày 12-10-2017 và tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn N trình bày:
Vào tháng 3 năm 2017, chị Phạm Thị Thùy D có vay anh số tiền 5.000.000 đồng, không tính lãi suất, chị D có giao cho anh 01 thẻ ATM của người khác để làm tin và hứa trong thời gian 01 tháng sẻ trả cho anh. Sau đó anh phát hiện thẻ ATM này bị hư nên nói với chị D thì chị Duyên lấy lại và có viết giấy vay tiền đề ngày 10-4-2017 cho anh, chị hẹn 01 tháng sẽ trả tiền nhưng không trả. Tháng 7 năm 2017 anh có làm đơn nhờ chính quyền địa phương giải quyết, chị D viết giấy cam kết trả 2.500.000 đồng vào ngày 12-7-2017 và sẽ trả tiếp 2.500.000 đồng vào ngày 12-8-2017 nhưng cũng không trả. Tháng 8 năm 2017, anh làm đơn khởi kiện yêu cầu chị D trả tiền thì mẹ chị D điện thoại kêu anh rút đơn, hẹn 01 tháng sau sẽ trả hết tiền cho anh. Đến ngày 30-9-2017 là đến hẹn thì bà hẹn thêm 10 ngày nữa, nhưng đến nay vẫn không trả.
Nay anh yêu cầu chị D có nghĩa vụ trả cho anh số tiền 5.000.000 đồng, do anh cho mình chị D vay nên không yêu cầu chồng chị D là anh Trần Hoàng N’ cùng có nghĩa vụ trả nợ với chị D, anh không yêu cầu tính lãi suất.
Đối với bị đơn chị Phạm Thị Thùy D: Tòa án triệu tập hợp lệ để thu thập chứng cứ nhưng chị D không đến và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu ông Trần Anh Minh phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm tham gia Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị D được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh N. Buộc chị D có nghĩa vụ trả cho anh N 5.000.000 đồng. Ghi nhận anh N không yêu cầu tính lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị Thùy D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị Thùy D có địa chỉ cư trú tại tổ 35, ấp CG, xã CG, huyện GD, Tây Ninh. Anh Trần Văn N có đơn khởi kiện tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản. Theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.
Về yêu cầu của đương sự: Anh N yêu cầu mình chị D có nghĩa vụ trả cho anh 5.000.000 đồng tiền vay, không yêu cầu chồng chị D là anh Trần Hoàng N’ cùng có nghĩa vụ trả nợ với chị D, anh không yêu cầu tính lãi suất. Anh cho rằng chị D có vay tiền anh, thế chấp cho anh 01 thẻ ATM. Sau đó anh phát hiện thẻ ATM này bị hư nên yêu cầu chị D trả tiền thì chị có viết giấy vay tiền và hẹn 01 tháng trả nhưng chị D không trả. Anh làm đơn chị D ra ban quản lý ấp CA thì chị D có nhận nợ và cam kết trả nợ 02 lần nhưng chỉ hẹn mà không chịu trả.
Tòa án đã triệu tập Chị Phạm Thị Thùy D theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để thu thập chứng cứ, tham gia phiên hòa giải, cũng như tham gia phiên tòa nhưng chị D vắng mặt không có lý do. Qua quá trình xác minh, Tòa án tiến hành lấy lời khai anh Trần Hoàng N’ là chồng chị D cho thấy: Anh và chị D cùng có hộ khẩu thường trú tại ấp CA, xã CG, huyện GD, Tây Ninh. Hai vợ chồng gây gỗ, cải nhau vì có nhiều người đòi nợ chị D, chị D đã dẫn theo con bỏ đi không có mặt tại địa phương từ tháng 10 năm 2017, anh không liên lạc được với chị D và không biết chị đi đâu. Chị D vay tiền anh N anh không biết, chỉ đến khi anh N thưa kiện ra chính quyền ấp CA anh mới biết. Anh xác định anh không liên quan đến số nợ của chị D và không có sử dụng đối với số tiền chị D vay.
Xét thấy, theo giấy vay tiền ngày 10-4-2017 chị D vay anh N số tiền 5.000.000 đồng và có ký tên trong giấy vay tiền. Ngoài ra, theo giấy xác nhận của ông Trần Văn L- Trưởng ấp CA thì chị D đã hứa trả tiền cho anh Nít và làm tờ cam kết tại Văn phòng ấp CA nhưng bị thất lạc, không tìm được. Từ đó cho thấy thực sự chị D có vay tiền anh N nhưng đã quá hạn trả nợ mà không trả là vi phạm quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2005, làm ảnh hưởng quyền lợi của anh N. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của anh N đối với chị D với số tiền 5.000.000 đồng.
Về yêu cầu tính lãi: Đối với vụ án này, anh N không yêu cầu lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Do anh Nít được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên chị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
UY T ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 26, 35, 147, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn N đối với chị Phạm Thị Thùy D.
Buộc chị D có nghĩa vụ trả cho anh N số tiền 5.000.000 đồng.
Ghi nhận anh N không yêu cầu tính lãi suất.
Kể từ khi anh N có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng chị D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Chị Phạm Thị Thùy Duyên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Trần Văn N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012607 ngày 12-10-2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Anh N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng chị D vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - CC THADS huyện Gò Dầu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Thị Bình |