vanban.org

Bản án 10/2018/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TAND tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 29/08/2018 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "ông Phạm Kim V - Công ty A"
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/LĐ-PT
Ngày 29/8/2018
V/v tranh chấp đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quang

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Hoàng Anh

Ông Nguyễn Thành Hiếu

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Tình– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Lê Thị Vẹn – Kiểm sát viên.

Ngày 29/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án lao động phúc thẩm thụ lý số 06/2018/TLPT-LĐ ngày 08/5/2018 về việc: “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 08/2018/LĐ-ST ngày 28/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện T (nay là thị xã P) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13/2018/QĐ-PT ngày 13/8/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạ m Kim V, sinh năm 1965 (có mặt).

Địa chỉ: đườ ng L, phườ ng B, Quậ n M, Tp. Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty TNHH SHL A (viết tắt là Công ty A).

Địa chỉ: Khu công nghiệ p M , huyện T (nay là thị xã P ), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bang Suk H – Chức vụ : Tổ ng giá m đố c (vắng mặt).

Ông Bang Suk H ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Lâm Thị Phương T, sinh 1973 và bà Trần Tuyết M, sinh năm 1996 (đều có mặt).

Ngườ i khá ng cá o: Ông Phạ m Kim V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Phạ m Kim V trình bày:

Ngày 01/3/2017, ông V ký H ợp đồng lao động có thời hạn 01 năm số 170301/HĐLĐ vớ i Công ty A với vị trí công việc là lái xe, chăm só c bả o dưỡ ng xe ô tô Inova và bả o đả m an toà n giao thông khi lá i xe . Theo hợ p đồ ng lao độ ng thì thời gian làm việc là 08 giờ /ngày, 48 giờ /tuầ n từ thứ hai đế n thứ bả y hà ng tuầ n vớ i mứ c lương 10.500.000đ/tháng; chế độ lương tăng ca theo quy đị nh.

Trong quá trì nh là m việ c , ông V thự c hiệ n đúng các điều khoản thỏa thuận trong hợ p đồ ng và nộ i quy lao độ ng . Tuy nhiên, ngày 23/8/2017 Công ty A ban hành quyế t đị nh không số về việ c chấ m dứ t hợ p đồ ng lao độ ng vớ i ông V kể từ ngày 30/9/2017, ông V không đồ ng ý khiế u nạ i nên n gày 11/9/2017, Công ty A ra thông bá o số SHL,OP/170911 thu hồ i quyế t đị nh chấm dứt hợp đồng lao động với ông V từ ngà y 15/9/2017. Nhưng do bấ t đồ ng vớ i Công ty A nên ông V không trở lại làm việc từ ngày 23/8/2017 đến nay.

Ông V làm đơn yêu cầu Phòng Lao động , Thương binh và Xã hộ i huyện T (nay là thị xã P) xem xé t giả i quyế t và khở i kiệ n yêu cầ u Tò a á n nhân dân huyện T (nay là thị xã P ) giải quyết buộ c Công ty A phải bồi thường cho ông V các khoản tổng cộng là 115.465.000đ, cụ thể như sau:

- 05 tháng tiền lương còn lại từ tháng 10/2017 đến hết tháng 02/2018 là: 10.500.000đ x 05tháng = 52.500.000đồng.

- Tiề n là m thêm giờ 3giờ /ngày (từ ngà y 01/3/2017 đến 01/8/2017): 180ngày x 3giờ x 75.000đ/giờ = 40.500.000đ.

- Tiề n tăng ca từ ngà y 22/02/2017 đến ngày 22/8/2017 là 30.000đ/giờ (75.000đ/giờ – 45.000đ/giờ ): 420giờ x 30.000đ = 12.600.000đ.

- Tiề n nử a thá ng lương 13 = 5.250.000đ.

- Tiề n nử a thá ng lương thá ng 9/2017 chưa thanh toá n là 4.615.000đ.

Ngoài ra ông V không yêu cầ u Công ty A nhậ n trở lạ i là m việ c và không yêu cầ u gì khá c.

Đại diện bị đơn Công ty A trình bày:

Công ty A xác nhận về thời điểm ký kết hợp đồng , vị trí công việc , mứ c lương và thờ i gian là m việ c như trì nh bà y củ a ông V là đúng.

Sau khi ký kế t hợ p đồ ng, quá trình lao động ông V có nhiều vi phạm như lái xe không tuân thủ l uậ t giao thông đườ ng bộ , nhiề u lầ n va chạ m xe trên đườ ng gây tâm lý lo sợ cho nhân viên và lã nh đạ o công ty ; tham gia đá nh bà i trong thờ i gian làm việc, có thái độ lời nói không hòa nhã , không tôn trọ ng đồ ng nghiệ p , gây mấ t đoà n kế t trong công ty.

Ngày 23/8/2017, Công ty A và ông V có gặp và thỏa thuận về chấm dứt hợp đồ ng trướ c thờ i hạ n kể từ ngà y 30/9/2017. Ông V đồ ng ý vớ i việ c chấ m dứ t trên , do đó Công ty A ban hà nh quyế t đị nh thông báo cho ông V biế t trướ c 30 ngày để tiế n hà nh giả i quyế t cá c chế độ cò n lạ i.

Ngày 07/9/2017, ông V có thư kiến nghị đến lãnh đạo Công ty A về việ c chấ m dứ t hợ p đồ ng lao độ ng vớ i ông là trá i phá p luậ t và sẽ khở i kiệ n yêu cầ u bồ i thườ ng.

Ngày 11/9/2017 vớ i thiệ n chí để ông V tiế p tụ c là m việ c nên Công ty A ban hành thông báo về việc thu hồi Quyết định ngày 23/8/2017 để ông V tiế p tụ c là m việ c từ ngà y 15/9/2017. Tuy nhiên Công ty A không nhậ n đượ c phả n hồ i nà o từ ông V về việ c đồ ng ý hay không và cũ ng không có mặ t tạ i công ty và o thờ i gian trên.

Qua yêu cầ u khở i kiệ n của ông V, Công ty A xác định không vi phạm về thờ i hạ n bá o trướ c 30 ngày nên không chấp nhận các khoản bồi thường trên

. Trườ ng hợ p ông V đồ ng ý thì Công ty A sẽ thanh toán ½ tháng lương thuộc tháng 9/2017.

Tại Bản án Lao động sơ thẩm số 08/2018/LĐ-ST ngày 28/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện T (nay là thị xã P ) đã áp dụng các Điề u 32, 35, 39 Bộ luậ t tố tụng dân sự ; Điề u Điề u 36, 38, 202 Bộ luậ t lao độ ng năm 2012; Điề u 26 Nghị quyế t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông V đố i vớ i Công ty A về tranh chấ p đơn phương chấ m dứ t hợ p đồ ng lao độ ng . Ghi nhậ n Công ty A thanh toá n cho ông V nử a thá ng tiề n lương thá ng 9/2017 là 4.615.000đ (Bố n triệ u, sáu trăm mười lăm nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí, trách nhiệm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 09/4/2018, ông Phạm Kim V có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án Lao động sơ thẩm số 08/2018/LĐ-ST ngày 28/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện T (nay là thị xã P ), với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ qua quyền lợi và cuộc sống của người lao động nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà T đại diện theo ủy quyền của Công ty A và ông V đều xác nhận các nội dung sau:

- Trong cùng ngày 23/8/2017 Công ty A đã mời ông V lên trao đổi về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông V thì ông V đồng ý, nên Công ty A đã ban hành luôn quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông V vào ngày 23/8/2017 xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động với ông V kể từ ngày 30/9/2017 nhưng đến ngày 30/9/2017 Công ty A mới giao quyết định này cho ông V.

- Sau khi ông V không đồng ý quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đã làm đơn khiếu nại thì Công ty A đã ra Thông báo số SHL.OP/170911 ngày 11/9/2017 về việc thu hồi Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số SHL-OA-170301/HĐLĐ ngày 23/8/2017 đối với ông V. Đồng thời sau đó Công ty A đã ban hành và gửi (dịch vụ báo phát) cho ông V 03 thông báo khác là Thông báo số SHL.OP/20170915 ngày 15/9/2017 (BL 25); Thông báo số SHL.OP/20170918 ngày 18/9/2017 (BL 94); Thông báo số SHL.OP/20170920 ngày 20/9/2017 (BL 94) về việc đề nghị ông V tiếp tục quay trở lại làm việc. Ông V cũng xác nhận đã nhậ n được các thông báo này nhưng ông V không muốn tiếp tục quay trở lại làm việc tại Công ty A nữa.

- Sau khi xét xử sơ thẩm thì ngày 03/5/2018 Công ty A đã chuyển trả ½ tháng lương cơ bản tháng 9/2017 cho ông V là 4.615.000đ theo ủy nhiệm chi ID28355 và ông V cũng xác nhận đã nhận 4.615.000đ do Công ty A chi trả.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty A đã tự nguyện hỗ trợ cho ông V 02 tháng lương tổng cộng là 21.000.000đ nhưng ông V không chấp nhận nên việc hòa giải không thành.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có quan điểm: Những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Do Công ty A đã ban hành thông báo thu hồi quyết định chấm dứt hợp đồng lao động và yêu cầu ông V quay trở lại làm việc nhưng ông V không đồng ý nên án sơ thẩm bác đơn khởi kiện của ông V là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông V đã thừa nhận sau khi ông V nhận được Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số SHL-OA-170301/HĐLĐ ngày 23/8/2017 của Công ty A về việ c chấ m d ứt hợp đồ ng lao độ ng đối với ông V thì ông V không đồng ý và đã có đơn khiếu nại, nhưng sau đó ông V đã nhận được Thông báo số SHL.OP/170911 ngày 11/9/2017 của Công ty A về việc thu hồi Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số SHL-OA-170301/HĐLĐ ngày 23/8/2017 và 03 thông báo khác của Công ty A về việc đề nghị ông V quay trở lại làm việc, nhưng ông V không muốn quay trở lại tiếp tục làm việc tại Công ty A nữa. Như vậy Hợp đồ ng lao độ ng số SHL -OA-170301/HĐLĐ giữa Công ty A và ông V được ký kết ngày 01/3/2017 đã được phục hồi, vẫn giữ nguyên hiệu lực. Và đối tượng bị khởi kiện là Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số SHL-OA-170301/HĐLĐ ngày 23/8/2017 của Công ty A đã bị thu hồi nên không còn hiệu lực pháp luật, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét tính pháp lý của Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số SHL-OA-170301/HĐLĐ ngày 23/8/2017 của Công ty A theo yêu cầu khởi kiện của ông V.

Vì Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số SHL-OA-170301/HĐLĐ ngày 23/8/2017 của Công ty A đã bị thu hồi nên việc ông V không quay trở lại tiếp tục làm việc là xuất phát từ ý chí và sự quyết định của chính ông V chứ không phải ông V không được tiếp tục làm việc là thuộc về trách nhiệm của Công ty A.

Việc ông V khởi kiện khi đối tượng bị khởi kiện không còn là không có căn cứ nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của ông V là đúng.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của Công ty A và ông V đã xác nhận thống nhất là sau khi xét xử sơ thẩm thì ngày 03/5/2018 Công ty A đã chuyển trả ½ tháng lương cơ bản tháng 9/2017 cho Viên là 4.615.000đ theo ủy nhiệm chi ID28355 như vậy quyền lợi lao động của ông V đã được Công ty A giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất không chấp nhận kháng cáo của ông V, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng loại trừ trách nhiệm của Công ty A phải thanh toán ½ tháng tiền lương cơ bản tháng 9/2017 cho Viên.

Ông V không phải nộp án phí lao động phúc thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạ m Kim V , sửa một phần Bản án Lao động sơ thẩm số 08/2018/LĐ-ST ngày 28/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện T (nay là thị xã P) như sau:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạ m Kim V về việc “Tranh chấ p đơn phương chấ m dứt hợp đồ ng lao độ ng” đố i với Công ty TNHH SHL A.

- Về án phí:

+ Án phí lao động sơ thẩm: Ông Phạ m Kim V không phả i nộ p.

+ Án phí lao động phúc thẩm: Ông Phạ m Kim V không phải nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 29/8/2018).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ