vanban.org

Bản án 10/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 29/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng: khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng T 12 (mƣời hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2018. Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hoàng Tuân - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ BẢY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/HSST
Ngày: 29/05/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Huỳnh Kim Cương

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hoàng Thái.

2/ Ông Lê Văn Tỉnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Thẩm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Thu Uyên - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXXST-HS ngày 17/5/2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN HOÀNG T – sinh năm:1993; Nơi cư trú: ấp SP 2, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T0, sinh năm 1964 và bà: Võ Thị C0, sinh năm 1966.

Tiền án, tiền sự: không

Bị bắt tạm giam ngày 21/02/2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Lê Văn Đ1, sinh năm 1999.

Trú tại: ấp SP 2A, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1/ Phạm Văn C2, sinh năm 1959

Trú tại: khu vực M, phường NB, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)

2/ Nguyễn Văn L2, sinh năm 2000

Trú tại: ấp SP 2, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)

3/ Huỳnh Hoàng S2, sinh năm 1987

Trú tại: ấp SP 2, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 30 phút, ngày 07/01/2018 Nguyễn Hoàng T nhắn tin cho Nguyễn Văn L2 là mượn xe môtô của ai đó rồi đến nhà của Nguyễn Văn D4, để rước T đến tiệm internet NA thuộc ấp SP 2A, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang để chơi game (L2 đang chơi game tại tiệm NA), thì L2 mượn xe môtô 95E1 – 419.19 của Lê Văn Đ1 (cũng đang chơi game tại đây) để rước T. Khoảng 10 phút sau thì L2 Đ1 rước T và đưa lại tiệm internet NA, sau đó L2 trả chìa khóa xe cho Đ1 và tiếp tục chơi game. Lúc này T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của Đ1 nhưng T vẫn chơi game, khoảng 20 phút sau thì T nói với Đ1 “em cho anh mượn xe mô tô 95E1 – 419.19 để L2 chở anh về nhà rồi L2 chạy xe lên trả cho em” (BL: 81), Đ1 đồng ý và đưa chìa khóa xe cho T (giấy tờ xe Đ1 để trong cốp xe), nhưng T không về nhà mà điều khiển xe chở L2 Đ1 cầu Kênh Ông thuộc ấp SP 2A, xã TT, thị xã NB, tỉnh Hậu Giang rồi nói với L2 “cưng ở đây đi, anh chạy về nhà bắt con gà để nhậu tiếp” L2 cũng đồng ý và đứng đợi (BL: 81) nhưng T không về nhà mà lấy xe đi uống rượu cùng những người bạn, đến khoảng 01 – 02 giờ sáng ngày 08/01/2018 thì nghĩ. Sau đó T gọi điện cho ông Phạm Văn C2 để cầm xe nhưng ông C2 từ chối vì đã khuya. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/01/2018 T đến nhà ông Nguyễn Văn C2 và thỏa thuận cầm xe được 10.000.000đ (mười triệu đồng), T sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Đối với Đ1 sau khi cho mượn xe, thì không liên lạc được với T nên Đ1 trình báo Công an xã TT về việc bị T lấy xe. Quá trình điều tra T khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số: 03/HĐĐGTT-HS ngày 26/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Ngã Bảy kết luận: 01 xe mô tô biển số 95E1 – 419.19 (giá trị còn lại 64%) trị giá 14.080.000đ (mười bốn triệu, không trăm tám chục ngàn đồng)

Tại cáo trạng số 09/CT-VKS-TXNB ngày 17/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang đã quyết định truy tố Nguyễn Hoàng T có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên ra trước Toà án nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang để xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Hoàng T theo tội danh và điều luật như quyết định cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo với mức án từ 12 tháng Đ1 15 tháng tù giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai của bị cáo với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cho thấy:

Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã lợi dụng vào sự quen biết và dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại: Cụ thể:

Nguyễn Hoàng T sau khi được Nguyễn Văn L2 mượn xe của Lê Văn Đ1 chở đến tiệm game NA. Lúc này T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của Đ1 nên T đã đưa ra thông tin gian dối và nói với Đ1 “em cho anh mượn xe mô tô 95E1 – 419.19 để L2 chở anh về nhà rồi L2 chạy xe lên trả cho em”. Do quen biết và trước đây T đã mượn xe của Đ1 nhiều lần nên Đ1 đồng ý và giao xe cho T (lúc này giấy tờ xe Đ1 để trong cốp xe). Khi nhận xe thì T là người điều khiển xe không đi về nhà như đã nói với Đ1 mà chở L2 đến cầu Kênh Ông bỏ L2 ở đó và tiếp tục nói dối với L2 là đi bắt con gà để nhậu nhưng thực chất là T đi uống rượu với bạn. Đ1 khoảng 11 giờ ngày 08/01/2018 T đến nhà ông Phạm Văn C2 thỏa thuận cầm xe được 10.000.000đ (mười triệu đồng), T sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số: 03/HĐĐGTT-HS ngày 26/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Ngã Bảy kết luận: 01 xe mô tô biển số 95E1 – 419.19 (giá trị còn lại 64%) trị giá 14.080.000đ (mười bốn triệu, không trăm tám chục ngàn đồng)

Từ những hành vi như đã nêu trên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Hoàng T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành có khả năng lao động đầy đủ nhưng lại không lo chí thú làm ăn. Bị cáo đã lợi dụng vào sự cả tin của bị hại để lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Khi thực hiện hành vi bị cáo nhận thức được là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Về nhân thân: Bị cáo là người đã bị xử phạt 02 năm tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mặc dù đã được xóa án tích nhưng đến ngày 07/01/2018 bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật.

Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên, xét cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cũng như đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Ngã Bảy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Bảy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bi hại Lê Văn Đ1 đã nhận lại xe và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 268, Điều 269 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng: khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng T 12 (mƣời hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2018. Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bi hại Lê Văn Đ1 đã nhận lại xe và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi bị hại cư trú.

Cỡ chữ