vanban.org

Bản án 10/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 17/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cứ A T phạm tội: Mua bán ngườ i

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 150; khoản 2 Điều 51; điều 15, điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sử a đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Cứ A T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/02/2018. 2/ Trách nhiệm bồi thƣờng dân sự: Áp dụng điều 48 của BLHS năm 2015; Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cứ A T - phạm tội mua bán người (điều 150 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cứ A T phạm tội: Mua bán ngườ i
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/HSST
Ngày 17-8-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Anh Tuấn.

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Lý A Tùng và bà Phạm Thị Huế

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Tro ̣ng Thể – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa ông Lò Văn Nhung - Kiểm sát viên.

Chiều ngày 16 và sáng 17/8//2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2018/HSST ngày 06/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2018/QĐXXST-HS ngày 03/8/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cƣ́ A T - tên gọi khác: không; Sinh ngày 07/7/1999 tại huyện M, tỉnh Điện Biên. Đăng ký HKTT và cư trú ta ̣i : Bản L, xã H, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: làm ruộng, nương; Trình độ văn hóa: 3/12. Con ông Cứ A D – SN 1978 và con bà Giàng Thị M – SN 1980 (đa chết). Vợ̃

là Thào Thị S- SN 1996 và 01 con sinh năm 2017. Tiền sự: không; Tiền án: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 09/02/2018 đến nay. Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Đỗ Xuân Toán – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

- Bị hại: Thào Thị C – sinh ngày 15 tháng 12 năm 2000; trú tại: thôn Đ, xã MĐ, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt Đại diện hợp pháp của bị hại : ông Thào A T - SN 1962; trú tại: thôn Đ, xã MĐ, huyện T, tỉnh Điện Biên, là bố đẻ của bị hại. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Cứ A S - Sinh ngày 05/7/2002; trú tại: Bản L, xã H, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên. Có mặt

+ ông Cứ A D- SN 1978; trú tại: Bản L, xã H, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên- là ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan và là Ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp của Cứ A S. Có mă ̣t

+ ông Thào A T- SN 1962; trú tại: thôn Đ, xã MĐ, huyện T, tỉnh Điện Biên, là ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan , ngườ i Đa ̣i diê ̣n hợp pháp của bi ̣ ha ̣i , Ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp pháp của ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan Thào Thi ̣ D. Có mặt + Giàng A D- SN 1990; trú tại: Bản L, xã H, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên. Có mă ̣t + Thào Thị D 1 (tên khác là Thào Thi ̣ D 2) - sinh ngày 11/4/2004; trú tại: thôn Đ, xã MĐ, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt Ngườ i đa ̣i diê ̣n hợp phá p của Thào Thị D1: ông Thào A C- SN 1970; trú tại: thôn Đ, xã MĐ, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt. + Thào Thị D - sinh năm 2004; trú tại: thôn Đ, xã MĐ, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt + Thào A K- SN 1990; trú tại: thôn Đ, xã MĐ, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt + Cứ A Ch- SN 1990; trú tại: Bản L, xã H, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên. Có mặt + Cứ A S1- SN 1986; trú tại: Bản L, xã H, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên. Có mặt + Cứ A K- SN 1999; trú tại: Bản L, xã H, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên. Có mặt + Giàng A Ch- SN 1995; trú tại: Bản L, xã H, huyê ̣n M, tỉnh Điện Biên. Có mă ̣t

- Ngườ i phiên di ̣ch : ông Giàng A Dè - SN 1985; trú tại: Tổ dân phố Thành Công, thị trấn T, huyê ̣n T, tỉnh Điện Biên./ Có mặt

NỘI DUNG VỤ Á N

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lờ i khai của bi ̣ ha ̣i, ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Cứ A T làm công nhân cho Công Ty TNHH H huyện T có quan hệ yêu đương vớ i chi ̣ Thào Thị C trú tại thôn Đ, xã MĐ, huyê ̣n T từ tháng 10 năm 2017. Do có người em gái họ tên là Cháng Thị L (tên khác là Cháng Thi ̣ P ) lấy chồng bên Trung Quốc, Tháng 01 năm 2018 Cháng Thị L gọi điện thoại cho bị cáo bảo có quen gái V iê ̣t Nam thi lừ a đưa sang Trung Quốc bán lấy tiền chia

̀ nhau, đến cuối tháng 01/2018 L tiếp tu ̣c go ̣i điê ̣n cho bi ̣ cáo hỏi có tim được ai

̀ không, bị cáo trả lời là chưa tìm được , chỉ có một người tên là C ở thôn Đ là ngườ i yêu của bị cáo , L bảo bi ̣ cáo lừ a C đưa sang Trung Quốc bán , bị cáo nói không biết đườ ng đi, Lau đa chĩ

dẫn cho bi ̣̉

cáo: “đi xe máy đến thi ̣ xa ML thì bắt̃ xe khách từ ML đến LC, L se hưỡ

́ ng dẫn đườ ng đi vào Trung Quốc”.

Sáng ngày 30/01/2018, bị cáo gă ̣p Cứ A S (là em trai bị cáo ) và Giàng A D tại Bản L, xã H, huyê ̣n M, Bị cáo nói có Cháng Thị L ở bên Trung Quốc nói nếu lừ a được gái Viê ̣t Nam đưa sang Trung Quốc bán thi được nhiều tiền , nghe vâ ̣y S

̀

và D cũng muốn tham gia vớ i Bi ̣ cáo, vì trước đó S có tán tinh Thào Thị D và D̉ có tán tỉnh Thào Thị D 1 cùng trú tại thôn Đ, xã MĐ. Ba ngườ i đa bàn nhau Bị̃ cáo T lừa Thào Thị C, S lừ a Thào Thị D và D lừa Thào Thị D1 đưa sang Trung Quốc để bán lấy tiền , nếu ai lừ a bán chót lọt thì được hưởng một nửa số tiền bán được, số tiền còn lại chia đôi cho hai người còn lại. Khoảng 15 giờ ngày 03/02/2018, T cùng S và D đi hai xe mô tô từ huyê ̣n M lên T với mục đích lừa C , D và D1 bán sang Trung Quốc . Khi đến nhà Thào Thị C ba ngườ i có gặp C , D và D 1. Đến 20 giờ cùng ngày anh trai Thào Thị C là Thào A K do nghi ngờ Bi ̣ cáo đa cõ ́ vợ rồi mà còn đến lừ a tán tinh em gả

́i , nên đa ̃ dùng xích và khóa để kh óa hai xe mô tô la ̣i , mục đích để hôm sau gọi b ố mẹ Bị cáo lên hỏi làm rõ. Bị giữ xe và sợ bị phát hiện nên S và D từ bỏ ý định lừa bán D và D1 sang Trung Quốc; Đến khoảng 23 giờ cùng ngày D đưa D1 về nhà, còn Bị cáo và S ở lại nhà Thào Thị C. Khi S đa ngũ

̉ , Bị cáo bảo C cùng đi thị trấn T để bảo bố mẹ Bị cáo đến gặp bố mẹ C nói chuyện , C đồng ý và lấy xe mô tô của gia đinh đưa cho bi ̣ cáo điều khiển , Bị cáo không đi vào thị trấn T mà đưa Thào Thị ̀ C đi xa N , huyê ̣̃

n M hai ngườ i dừ ng ngủ la ̣i , tại đây Bị cáo gọi điện cho Cháng Thị L nói đã lừa được Chu đến xa N rỗ

̀i; Sáng ngày 04/02/2018 Bị cáo đưa C đến thị xã ML, tại đây B ị cáo nhận được điện thoại của Giàng A D nói Công an đã biết và đa thông bã

́o chă ̣n các hướ ng đườ ng rồi nên hay đưa C về nhã

̀ . Tại nhà nghỉ ở thị xã ML Bị cáo nói với C là có em gái bên Trung Quốc nên sẽ đưa C sang ở vớ i em gái mấy hôm, khi nào bố me ̣ Bi ̣ cáo cho phép lấy C làm vợ thì đưa về, nghe vâ ̣y C đồng ý . Đến 22 giờ ngày 05/02/2018 Công an thi ̣ xa ML kiểm trã hành chính tại nhà nghỉ, nghi ngờ Bi ̣ cáo có hành vi mua bán ngườ i nên đa đưa về̃ trụ sở Công an và l ập hồ sơ chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n T.

Quá trình điều tra . Cơ quan cảnh sát điều tra đa thu giữ

̃ vâ ̣t chứ ng gồm : 03 xe mô tô, 05 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng, các giấy tờ liên quan gồm giấy phép lái xe, đăng ký xe mô tô, chứ ng minh thư, sổ hô ̣ khẩu, giấy khai sinh.

Cơ quan điều tra đa quyết đi ̣̃

nh xử lý vâ ̣t chứ ng bằng hinh thứ c trả la ̣i cho

̀ chủ sở hữu hợp pháp các tài sản gồm

: trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO(DETECH) biển kiểm soát 27B1-1815 cho ông Cứ A D ; 01 xe mô tô SIRIUS, hiê ̣u YAMAHA biển kiểm soát 27T1-039.04 cho cho ông Thào A T; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 27B1-524.80 cho anh Giàng A Ch; Trả cho Giàng A D 01 đăng ký xe mô tô , 01 giấy chứ ng minh thư nhân dân , 01 giấy phép lái xe , 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Sam sung ; Trả cho Thào Thị D 01 điê ̣n thoại di đô ̣ng hiê ̣u Masstel; trả cho Thào Thị D1 01 giấy khai sinh, 01 sổ hô ̣ khẩu, 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Sam sung.

Bố đẻ bị cáo và bi ̣ ha ̣i , Đa ̣i diê ̣n hợp pháp của bi ̣ ha ̣i đa tự̃

thỏa thuận bồi thườ ng dân sự vớ i số tiền 7.000.000đ gồm tiền xăng xe , công đi tim kiếm , tiền

̀ bồi thườ ng danh dự cho bi ̣ ha ̣i và tiền sử a xe mô tô. Tại phiên tòa, Đa ̣i diê ̣n hợp pháp của Bị hại và bị hại không buô ̣c bi ̣ cáo phải bồi thườ ng thêm vấn đề gi.

̀

Bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 04/7/2018 của VKSND huyện T đã truy tố bị cáo Cứ A T về tội Mua bán ngườ i theo điểm c khoản 1 Điều 150 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sử a đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo không thừ a nhâ ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i , cho rằng bi ̣ cáo do quan hê ̣ yêu đương nên chi dẫn bi ̣̉

ha ̣i đi thi ̣ xa ML để chơi và mục đích bị cáo rủ̃ bị hại đi trung Quốc là để đi chơi chứ không nhằm mục đích bán, các lời khai của bị cáo ta ̣i cơ quan điều tra không bi ̣ ép cung hay bi ̣ dùng nhục hình mà do bị cáo sợ nên đa khai nhâ ̣̃

n tô ̣i như vâ ̣y, bị cáo cũng không tác động gia đinh bồi thườ ng

̀ mà do bố đẻ bị cáo tự bồi thường cho gia đình Thào Thị C.

Bị hại và những người tham gia tố tụng khác giữ nguyên ý kiến như lờ i khai tại cơ quan điều tra. Tại phiên tòa Đại diện VKSND huyện đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 150; khoản 2 điều 51, điều 15, điều 57 của BLHS năm 2015 (sử a đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Cứ A T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán người”, không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo. Về Bồi

̀

thường dân sự đề nghị công nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n bồi thườ ng của các bên và bi ̣ cáo đa bỗ ̀i thườ ng xong cho bi ̣ ha ̣i . Đồng thời đề nghị HĐXX xử lý vật chứng theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t và miễn án phí HSST cho bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đề nghị xem xét động cơ , mục đích phạm tội của bị cáo và làm rõ một số mâu thuẫn trong lời khai của bị hại về cuộc gọi điện của Bị cáo cho Cứ A K trong khi Bi ̣ ha ̣i chưa biết Cứ A K, lờ i khai của ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cứ A D về viê ̣c bi ̣ cáo có tác đô ̣ng bồi thườ ng hay không. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì sau khi nghe luâ ̣n tô ̣i của Kiểm sát viên và không có ý kiến gì khi nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thào Thị D, xét sự vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của BLTTHS năm 2015. Tại phiên tòa, ngườ i bào chữa đề nghi ̣ xem xét đô ̣ng cơ, mục đích của bị cáo và các mâu thuẫn tro ng lờ i khai của bi ̣ ha ̣i , lờ i khai của ông Cứ A D vớ i bi ̣ cáo ; HĐXX thấy rằng, đô ̣ng cơ và mục đích của bị cáo khi đ ưa bi ̣ ha ̣i đi thi ̣ xa ML đã

̃ được chứ ng minh qua lờ i khai của ngườ i bi ̣ ha ̣i , của những ngườ i có quyền lợi nghĩa vu ̣ liên quan tại phiên tòa, phù hợp với diễn biến hành vi và các chứng cứ được thu thâ ̣p trong quá trinh điều tra; Về lời khai của bị hại cũng đã được làm rõ

̀ tại phiên tòa qua lời trình bày của Cứ A K khẳng đi ̣nh sáng ngày 04/02/2018 bị cáo có gọi điện thoại cho Cứ A K; Đối với lời khai của ông Cứ A D, tại phiên tòa bị cáo không nhận tội và khẳng định từ khi bị tạm giam không gă ̣p ông Cứ A D, ông D cũng thừ a nhâ ̣n chưa gă ̣p bi ̣ cáo, như vâ ̣y viê ̣c bi ̣ cá o không tác đô ̣ng gia đinh bồi thườ ng theo lờ i khai của bi ̣ cáo là phù hợp. ̀ [3] Về nội dung vụ án: Qua lời khai của bị hại, những ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cứ A S, Giàng A D, lờ i khai của những ngườ i tham gia tố tu ̣ng khác và các chứng cứ được làm rõ tại phiên tòa đã xác định được: Vì mục đích hám lợi , nên sau khi nghe điê ̣n thoa ̣i của Cháng Thị L về viê ̣c tìm kiếm phụ nữ Viê ̣t Nam đưa sang Trung Quốc bán lấy tiền sử du ̣ng cho m ục đich cá nhân, lợi du ̣ng sự cả tin của bi ̣ ha ̣i về viê ̣c Bị cáo đến tìm hiểu và hứa lấy ́ về làm vợ, trong khi bi ̣ cáo đa cõ ́ vợ con . Ngày 03/02/2018 Bị cáo đã đến nhà bị hại với mục đích để đưa sang Trung Quốc bán , sau khi ngườ i nhà bi ̣ ha ̣i khóa xe không cho đi do nghi ngờ bị cáo đa cõ ́ vợ, bị cáo tiếp tu ̣c có lờ i nói lừ a dối bị hại là đưa về nhà bố me ̣ đẻ bị cáo, nhưng thực chất bị cáo đưa bị hại đi thị xã ML và bảo bị hại đi cùng sang Trung Quốc vớ i mu ̣c đich để bán.

́

Tuy bị cáo không thừa nhận việc lừ a bị hại đi Trung Quốc nhằm đưa đến chỗ Cháng Thị L để bán, nhưng tại phiên tòa những ngườ i có nghia vu ̣̃

liên quan Cứ A S (là em trai ruột bị cáo ) và Giàng A D đều khẳng định ba người đa bàñ nhau về viê ̣c lừ a Thào Thị C, Thào Thị D, Thào Thị D1 để đưa sang Trung Quốc bán lấy tiền khi cùng chơi C ù tại Bản L, xã H; Ngày 03/02/2018 mục đích ba ngườ i đi thôn Đ, xã MĐ là để lừa đưa đi Trung Quốc và bị cáo có nói ai lừa được thì cứ đưa đi trước. Tuy nhiên, sau khi anh trai bi ̣ ha ̣i khóa hai xe mô tô la ̣i, Cứ A S và Giàng A D đa sợ̃ bi ̣ phát hiê ̣n và từ bỏ ý đi ̣nh . S vẫn khẳng đi ̣nh ta ̣i phiên tòa, tối ngày 03/02/2018 bị cáo có nói vớ i S sẽ đưa C đi Trung Quốc bán, nếu đưa được đi thi S và D bỏ cha ̣y không lấy xe nữa ; sau khi bị cáo đưa bi ̣ ha ̣i đi , ngày

̀ 05/02/2018 Giàng A D gọi điện cho bị cáo nói Công an đa biết vã

̀ chă ̣n các đườ ng rồi, bị cáo đưa C về đi; Lờ i khai của Cứ A S, Giàng A D tại phiên tòa phù hợp với lờ i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.

Mă ̣t khác, bị cáo vẫn giữ nguyên ý đi ̣nh đưa bi ̣ ha ̣i sang Trung Quốc để bán kể cả khi anh trai bi ̣ ha ̣i khóa xe mô tô la ̣i, thể hiê ̣n ở viê ̣c bị cáo tiếp tu ̣c dùng thủ đoa ̣n gian dối nói bố me ̣ ở thi ̣ trấn T và đưa bi ̣ ha ̣i về nhà bố me ̣ để xin ý kiến , nhưng bị cáo đưa bi ̣ ha ̣i đi thi ̣ xa ML, tại đây bị cáo có liên lạc với Cháng Thị L,̃ và nói vớ i bi ̣ ha ̣i bố me ̣ bi ̣ cáo chưa đồng ý nên hai ngườ i đi sang Trung Quốc ở vớ i em gái bi ̣ cáo bên Trung Quốc mô ̣t thờ i gian, mă ̣c dù bị cáo chưa sang Trung Quốc lần nào, không biết Cháng Thị L ở địa chỉ nào, hiê ̣n đang làm gì, cùng với viê ̣c ngày 04/02/2018 khi đi đến thi ̣ xa ML bị cáo có 900.000đ nhưng vẫn gọĩ điê ̣n cho Cứ A K bảo mang tiền lên và mang xe máy của gia đinh bi ̣ ha ̣i về , thể

̀ hiê ̣n bi ̣ cáo vẫn giữ nguyên ý đi ̣nh đưa Bi ̣ ha ̣i sang Trung Quốc.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận Bị cáo Cứ A T đa dũ ̀ng thủ đoa ̣n gian dối nhằm mu ̣c đich đưa bi ̣ ha ̣i sang Trung Quốc để bán lấy tiền. Tuy hành vi pha ̣m tô ̣i

́ của bị cáo chưa thực hiện xong, nhưng đa đũ ̉ yếu tố cấu thành tô ̣i Mua bán ngườ i, tô ̣i pha ̣m và hinh pha ̣t được quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 điều 150 của BLHS năm 2015.

̀ Do đó Cáo tra ̣ng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của Bị cáo thấy rằng: Bị cáo thực hiê ̣n hành vi mô ̣t minh, không có ngườ i giúp sứ c, xúi giục; Mục đích bị cáo lừa bị

̀ hại để đưa sang Trung Quốc để bán lấy tiền sử dụng cho mục đích cá nhân . Hành vi của bi ̣ cáo đa xâm ha ̣̃

i đến quyền tự do thân thể

, xâm pha ̣m danh dự , nhân phẩm của công dân , coi người phụ nữ như hàng hóa để trao đổi, mua bán kiếm tiền, thu lợi bất chính, gây hoang mang bất binh trong nhân dân . Tuy nhiên, hành

̀

vi phạm tội của bị cáo chưa thực hiê ̣n hoàn thành đến cùng đa bi ̣̃ cơ quan công an phát hiện khi đang trên đường đi , do đó cần xem xét áp du ̣ng tinh tiết “pha ̣m tô ̣i

̀ chưa đa ̣t” theo điều 15 và điều 57 của BLHS cho bị cáo.

Đối với Cứ A S và Giàng A D là những người tuy có bàn bạc cùng bị cáo về viê ̣c lừ a phu ̣ nữ đưa sang Trung Quốc, tuy nhiên viê ̣c thực hiê ̣n của mỗi ngườ i là đô ̣c lâ ̣p và hai ngườ i đa tữ ̀ bỏ ý đi ̣nh sau khi anh trai của bi ̣ ha ̣i giữ xe mô tô nên thuô ̣c trườ ng hợp “tự ý nử a chừ ng chấm dứ t viê ̣c pha ̣m tô ̣i” . Giàng A D không biết viê ̣c Bi ̣ cáo vẫn cố tinh đưa bi ̣ ha ̣i sang Trung quốc và Cứ A S là em trai của

̀ Bị cáo, nên hành vi của hai ngườ i chưa cấu thành tô ̣i “không tố giác tô ̣i phạm”. Do đó Cơ quan điều tra và Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n không đề nghi ̣ xử lý trách nhiệm hình sự đối vớ i Cứ A S và Giàng A D là phù hợp. Đối với Cháng Thị L hiê ̣n đang ở Trung Quốc, quá trình điều tra không xác định được đi ̣a chi nên cở quan điều tra chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự , do đó HĐXX không đề cập giải quyết. Về hành vi của Bi ̣ cáo lấy 900.000đ của Cứ A S qua điều tra xác đi ̣nh Bi ̣ cáo chưa bi ̣ xử lý hành chinh , chưa bi ̣ kết án về tô ̣i chiếm đoa ̣t tài

́

sản, nên Cơ quan điều tra đa quyết đi ̣̃

nh xử lý hành chinh là phù hợp.

́ [5] Xét về năng lực chịu trách nhiệm hình sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Cứ A T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục ngăn ngừa tội phạm và bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội. Bị cáo chưa có tiền án, chưa có tiền sự, Bị cáo không có sự tác động nhưng gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường 7.000.000đ cho bị hại, nên hâ ̣u quả của tô ̣i pha ̣m đa đượ̃

c khắc phu ̣c, cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2

điều 51 của BLHS cho bị cáo. [6] Về hinh phạt bổ sung : Xét bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn , thu

̀ nhâ ̣p chủ yếu từ làm ruô ̣ng nương, gia đinh thuô ̣c diê ̣n hô ̣ nghèo nên không áp

̀

dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [7] Trách nhiệm bồi thường dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thườ ng thiệt hại cho Bị hại 7.000.000đ gồm tiền bồi thườ ng danh dự, công tim kiếm, sử a xe mô tô

̀ (Biên bản thỏa thuâ ̣n và Biên bản giao nhâ ̣n tiền ngày 05/8/2018 giữa bố đẻ Bi ̣ cáo và bị hại , đa ̣i diê ̣n hợp phá p của bi ̣ ha ̣i ), tại phiên tòa bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thườ ng thêm vấn đề gi , do đó

̀ HĐXX cần công nhâ ̣n Bi ̣ cáo đa bỗ ̀i thườ ng xong cho bi ̣ ha ̣i. [8] Về xử lý Vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra:

- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n đa xữ ̉ lý vâ ̣t chứ ng bằng hinh

̀ thứ c trả la ̣i tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp gồm : trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 27T1-1815 cho ông Cứ A D; 01 xe mô tô biển kiểm soát 27T1-039.04 cho cho ông Thào A T; 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-524.80 cho ông Giàng A Ch; Trả cho Giàng A D 01 đăng ký xe mô tô , 01 giấy chứ ng minh thư nhân dân , 01 giấy phép lái xe , 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Sam sung ; Trả cho Thào Thị D 01 điê ̣n thoại do động hiệu Masstel; trả cho Thào Thị D1 01 giấy khai sinh, 01 sổ hô ̣ khẩu, 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Sam sung. HĐXX thấy viê ̣c xử lý vâ ̣t chứ ng của Cơ quan Điều tra là phù hợp vớ i quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t nên chấp nhâ ̣n.

- Đối với các vật chứng còn lại cơ quan Thi hành án dân sự đang quản lý: + 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu đen nhan hiê ̣̃

u FPT , 01 Giấy khai sinh của bị hại Thào Thị C, cần trả la ̣i cho bi ̣ ha ̣i.

+ 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu trắng nhãn hiệu Iphone thu giữ của bị cáo , quá trình điều tra đã làm rõ bị cáo sử dụng để liên lạc , trao đổi vớ i Cháng Thị L để thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i, nên cần ti ̣ch thu bán đấu giá sung quy nhã

̀ nướ c.

+ 01 chứ ng minh thư nhân dân mang tên Cứ A T cần trả la ̣i cho bi ̣ cáo.

Về án phí : Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiê ̣n kinh tế xa hô ̣̃ i đă ̣c biê ̣t khó khăn , nên cần miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Cứ A T phạm tội: Mua bán ngườ i

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 150; khoản 2 Điều 51; điều 15, điều 57 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sử a đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Cứ A T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/02/2018.

2/ Trách nhiệm bồi thƣờng dân sự: Áp dụng điều 48 của BLHS năm 2015; Điều 584, khoản 1 điều 585 của Bộ luật dân sự năm 2015:

Công nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n của các bên về bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i, bị cáo phải bồi thườ ng 7.000.000đ cho bi ̣ ha ̣i và gia đinh bi ̣ ha ̣i, bị cáo đã bồi thường xong.

̀

3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của BLHS, khoản 2, khoản 3 điều 106 của BLTTHS năm 2015

- Chấp nhâ ̣n quyết đi ̣nh xử lý vâ ̣t chứ ng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n T: trả lại 01 xe mô tô nhan hiê ̣̃

u ESPERO (DETECH) biển kiể m soát 27B1-1815 cho ông Cứ A D; 01 xe mô tô SIRIUS, hiê ̣u YAMAHA biển kiểm soát 27T1-039.04 cho cho ông Thào A T; 01 xe mô tô nhan hiê ̣̃

u ESPERO , biển kiểm soát 27B1-524.80 cho anh Giàng A Ch; Trả cho Giàng A D 01 đăng ký xe mô tô , 01 giấy chứ ng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Sam sung; Trả cho Thào Thị D 01 điê ̣n thoa ̣i do đô ̣ng hiê ̣u Masstel ; trả cho Thào Thị D1 01 giấy khai sinh, 01 sổ hô ̣ khẩu, 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Sam sung.

- Trả lại cho bị hại Thào Thị C : 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng màu đen , nhãn hiệu FPT; 01 Giấy khai sinh mang tên Thào Thị C.

- Trả lại cho bị cáo: 01 Giấy chứ ng minh thư nhân dân mang tên Cứ A T

- Tịch thu sung quỹ nhà nước : 01 điê ̣n thoại di động màu trắng , nhãn hiệu Iphone thu giữ của bi ̣ cáo.

Các vật chứng cơ quan Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra, TAND huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện T.

4. Về án phí:

Áp dụng điều 136 của BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

5. Kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối vớ i ngườ i vắng mặt thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.\

Cỡ chữ