vanban.org

Bản án 10/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 15/03/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/03/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hì…"
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 10/2018/HSPT
Ngày 15/03/2018
Vụ: Nguyễn Thành L “Cố GTT”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn C nh.

- Các Thẩm phán: Ông Phạm Duy Lam và bà Nguyễn Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: à Đinh Ê Ban Mỹ - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 15/3/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s 10/2018/TLPT-HS ngày 22/01/2018 đ i với bị cáo Nguyễn Thành L do có kháng cáo của bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 66/2018/HS-ST ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thành L, sinh ngày 19/11/1988. Trú tại: thôn H, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; Học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Tạ Thị L; có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

* Người bị hại:

Anh Nguyễn Thanh T. Sinh năm 1982. Trú tại: thôn Hoàng Tiên, xã la Phin, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kho ng 19 giờ 30 phút ngày 22/5/2017, ị cáo Nguyễn Thành L đang ở nhà thì nghe tiếng nói to của anh trai ruột là Nguyễn Thanh T đang cãi nhau ên nhà mẹ là bà Tạ Thị L. ị cáo L sang nhà bà Tạ Thị L thì thấy anh Nguyễn Thanh T đang chửi mẹ, ị cáo L nói anh T về nhà đi thì anh T nói không ph i việc của ị cáo L. Vì tức giận anh T xúc phạm mẹ nên ị cáo L cầm cái ch o ném vào c ng chỗ anh T đang đứng và nói “Anh không về tôi đánh anh đó”, anh T nói “Tao thách mày”. ị cáo L tiến lại gần đẩy anh T ra khỏi cổng thì anh T nói “Tao thách mày ước ra ngoài đường”. Lúc này ị cáo L và anh T tiếp tục đấy qua đấy lại, ị cáo L cúi nhặt nửa viên gạch ở cổng hù dọa anh T thì chị Trịnh Thanh H là vợ ị cáo L can ngăn nên c hai đi về nhà. Khi đi ị cáo L nói “Tao về lấy gậy sang đánh chết mày”, anh T quay lại nói “Tao thách mày ước qua nhà tao” sau đó về nhà dọn đồ. Bức xúc do anh T thách đ nên ị cáo L về nhà cầm một cây típ sắt dài 63cm, đường kính 2,5cm, hình tròn, trên đầu có đục lỗ và cột một sợi dây dù màu xanh đi sang nhà anh T. Thấy anh T hai tay cầm hai cây sắt dùng để móc l p xe công nông đứng trước của ga-ra sửa xe, ị cáo L đi đến, khi ị cáo L và anh T đứng đôi diện nhau ị cáo L cầm cây sắt chỉ vào mặt anh T và nói “Giờ ông thích gì” thì anh T nói “Thằng này láo”. Ngay lúc này, tay trái anh T cầm cây típ sắt gạt cây típ sắt của ị cáo L sang một bên, tay ph i anh T cầm cây típ sắt cúi xu ng đánh trúng vào chân trái của ị cáo L. Trong lúc anh T đang cúi người thì ị cáo L tay ph i cầm típ sắt đánh một cái từ trên xu ng, từ ph i sang trúng vào đầu trượt xu ng cổ làm anh T ngã xu ng đất. Lúc này bà Tạ Thị L đang đứng chỗ hai anh em đang đánh nhau, ị cáo L nói bà Tạ Thị L đến xem anh T thế nào. Khi bà Tạ Thị L đến thấy anh T nằm yên nên gọi mọi người đến giúp sau đó anh T được vợ và một s người hàng xóm đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện quân y 211 tỉnh Gia Lai đến ngày 30/5/2017 thì xin xuất viện và điều trị ngoại trú.

Sau khi anh T được đưa đi cấp cứu thì ị cáo L về nhà lấy xe máy và tiền đi theo sau, đến nơi ị cáo L đưa s tiền 1.500.000 đồng cho anh Nguyễn Mạnh H và nhờ anh H đưa lại cho chị N (vợ anh T) và anh T để chi viện phí. Kho ng 3 giờ sáng thì ị cáo L đi về nhà. Sau khi anh T xuất viện, ị cáo L đến nhà anh T xin lỗi và xin được bồi thường chi phí điều trị nhưng không được anh T chấp nhận.

Ngày 05/5/2017, anh Nguyễn Thanh T làm đơn yêu cầu khởi t vụ án và khởi t bị can đ i với Nguyễn Thành L.

Tại b n kết luận giám định pháp y về thương tích s 111/TGT-TTPY ngày 27/7/2017, Trung tâm Giám định pháp y tỉnh Gia Lai kết luận: Nguyễn Thanh T bị vỡ rạn xương hộp sọ phía ngoài vùng trán cung mày bên trái dài l,8cm, không di lệch 8%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 8%.

Tại bản án sơ thẩm số 66/2018/HS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

- Tuyên b bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “C ý gây thương tích”.

- Áp dụng Điều 33; điểm a kho n 1 Điều 104; các điểm b, h, p kho n 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của người tham gia t tụng theo luật định.

Trong thời hạn luật định, bị cáo Nguyễn Thành L có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và nêu lý do là sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp đủ tiền để bồi thường thiệt hại cho bị hại như quyết định của b n án sơ thẩm; bị hại đã đồng ý xin khoan hồng cho bị cáo; bị cáo có con nhỏ, mẹ bị bệnh.

Người bị hại ( anh Nguyễn Thanh T) có ý kiến xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo phạm tội cũng xuất phát từ một phần lỗi của bị hại; bị cáo có nhiều tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự. Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm đã nộp đủ tiền bồi thường cho bị hại, thể hiện rõ hơn sự ăn năn h i c i; và tại phiên tòa phúc thẩm bị hại xin khoan hồng cho bị cáo; đây là những tình tiết gi m nhẹ mới cần được áp dụng cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa b n án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành L khai nhận hành vi như đã khai tại phiên tòa sơ thẩm. Đ i chiếu vói các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được, có tại hồ sơ vụ án, thấy phù hợp, đủ cơ sở khẳng định rằng:

Kho ng 19 giờ 30 phút ngày 22/5/2017, do có mâu thuẫn với anh trai là Nguyễn Thanh T, bị cáo Nguyễn Thành L đã sử dụng một cây típ sắt dài 63cm, đường kính 2,5cm đánh trúng vào đầu trượt xu ng c anh T, làm anh T bị tổn hại 8% sức khỏe.

Xét mặc dù tỉ lệ tổn hại sức khoe do bị cáo gây ra cho anh T chỉ là 8%, nhưng ị cáo đã sử dụng cây típ sắt là “hung khí nguy hiểm”, và người bị hại có đơn yêu cầu khởi t , nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “ c ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a kho n 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa sơ thẩm đã xem xét nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, áp dụng đúng khung hình phạt, và các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, từ đó xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, với mức hình phạt 8 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự như án sơ thẩm đã nêu, đó là: ị cáo phạm tội do có một phần lỗi của bị hại đã có lời lẻ to tiếng với mẹ bị cáo ( cũng là mẹ bị hại), và dùng hung khí đánh vào chân ị cáo trước; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp tiền bồi thường cho bị hại. Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo nộp thêm tiền bồi thường cho bị hại, thể hiện rõ hơn sự ăn năn h i c i về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại có ý kiến xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo. Đây là những tình tiết gi m nhẹ mới cần được xem xét, áp dụng cho bị cáo. Qua đó xác định bị cáo phạm vào tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân t t ( chưa có tiền án tiền sự), có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục, thấy cũng đủ tác dụng c i tạo. Do vậy, chấp nhận kháng cáo, sửa b n án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù, nhưng cho ị cáo được hưởng án treo.

Do kháng cáo được chấp nhận, bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thòi hạn kháng cáo, kháng nghị.

Từ các nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử:

1. Sửa b n án sơ thẩm:

Áp dụng Điều 33; điểm a kho n 1 Điều 104; các điểm b, h, p kho n 1; kho n 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử:

- Phạt bị cáo Nguyễn Thành L 08 ( tám) tháng tù về tội “C ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn gian thử thách là 16 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ( 15/03/2018).

- Giao bị cáo Nguyễn Thành L cho Uỷ ban nhân dân xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

2. Bị cáo Nguyễn Thành L không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ