vanban.org

Bản án 10/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 26/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Nguyễn Văn C 08 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/01/2018. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Danh mục án phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÔNG CỐNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/HS-ST
Ngày 26-4-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Minh Trí

Ông Thiệu Khắc Yên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2018/TLST - HS ngày 06 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1986 tại: Xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn 6, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Q và bà Vũ Thị X; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; có 01 tiền án: Bản án số 42/2015/HSST ngày 19/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/7/2016; bị tạm giữ 6 ngày từ ngày 20/01/2018 đến ngày 26/01/2018 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm: 1966 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn 7, xã T1, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quen biết nhà ông Nguyễn Hữu B và biết nhà ông B có nuôi gà, nên khoảng 20 giờ ngày 20/01/2018, Nguyễn Văn C trèo tường vào vào khu vực chuồng gà nhà ông B bắt trộm 02 con gà bỏ vào trong người. Sau đó, C trèo tường ra ngoài thì bị phát hiện nên vứt gà lại và bỏ chạy về nhà. Nhận thức được hành vi vi phạm của mình nên 21 giờ cùng ngày, C đến Cơ quan Công an huyện Nông Cống đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bị hại Nguyễn Hữu B báo cáo: Khoảng 20 giờ ngày 20/01/2018, ông đang ở trong nhà thì nghe tiếng động ngoài chuồng gà, ông soi đèn pin về phía chuồng gà thì thấy một người đang trèo tường ra ngoài. Ông đuổi theo hô hoán thì người đó vứt lại 02 con gà nên ông không đuổi nữa. Hai con gà có tổng trọng lượng 5kg. Hiện nay ông đã nhận lại tài sản là 2 con gà và không yêu cầu gì.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/ĐGTS ngày 24/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Nông Cống

- 01 con gà màu lông vàng nâu có trọng lượng 3kg giá trị 270.000đ;

- 01 con gà màu lông nâu xám có trọng lượng 2kg giá trị 180.000đ;

Tổng giá trị tài sản định giá là 450.000đ.

Tại bản cáo trạng số 16/CTr-VKSNC ngày 06/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân (Sau đây viết tắt là VKSND) huyện Nông Cống truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của phạm tội mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm (sau đây viết tắt là HSST).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nông Cống, Điều tra viên, VKSND huyện Nông Cống, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai quá trình điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng vụ án. Như vậy. đủ cơ sở chứng minh: Vào khoảng 20 giờ ngày 20/01/2018 tại nhà ông Nguyễn Hữu B thôn 7, xã T1, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 02 con gà. Giá trị tài sản trộm cắp là 450.000đ dưới mức định lượng quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS nhưng trước đó bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mới thuộc trường hợp định khung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS. Như vậy, cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an địa bàn. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vì vậy, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung và để ổn định địa bàn.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Không có tình tiết tăng nặng mà có các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo HĐXX xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian với môi trường giáo dục, cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam mới đủ để giáo dục bị cáo thành người tốt và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét lượng giảm cho bị cáo một phần thể hiện tính khoan hồng trong chính sách hình sự của Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo có tội, bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;

Xử phạt Nguyễn Văn C 08 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/01/2018.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải Thi hành án dân sự có quyền tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ