vanban.org

Bản án 10/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ CH được ly hôn với anh Lê Ngọc C.

[2]. Về con chung: Giao con chung Lê Nhật Anh T - sinh ngày 23/3/2012, cho chị Nguyễn Thị Mỹ CH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Lê Ngọc C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lê Ngọc C có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ CH được ly hôn với anh Lê Ngọc C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DK
TỈNH KH
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/HNGĐ-ST
Ngày 05 tháng 3 năm 2018
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK - TỈNH KH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Huê

Ông Đỗ Công Luận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Bảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện DK - KH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 438/2017/TLST-HNGĐ ngày 09/11/2017 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐST-HNGĐ ngày 29/01/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ CH - sinh năm 1991 Địa Chỉ: Thôn Hội Xương, xã Suối Hiệp, huyện DK, tỉnh KH.

Chị CH Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Lê Ngọc C - sinh năm 1985 Địa Chỉ: Thôn Xuân Phú 1, xã Suối Tiên, huyện DK, tỉnh KH.

Anh C vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 06/11/2017, bản tự khai ngày 22/11/2017 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Mỹ CH trình bày: Chị và anh Lê Ngọc C tự nguyện yêu thương nhau, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Suối Tiên theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23/2012 ngày 17/8/2012. Giai đoạn đầu cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng hạnh phúc. Khoảng thời gian sau vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C thay đổi tính tình, cả hai bất đồng về quan điểm sống trong suy nghĩ và hành động, không có sự đồng cảm, chia sẻ, chăm sóc, quan tâm đến nhau, dẫn đến kình cãi thường xuyên, tình cảm giữa vợ chồng ngày càng áp lực, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Giữa chị và anh C ngày càng có những khoảng cách càng lớn, nên cả hai đã không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2017 cho đến nay. Chị xác định không còn tình cảm yêu thương, quan tâm chăm sóc đến anh C nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Ngọc C.

Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung là Lê Nhật Anh T - sinh ngày 23/3/2012. Chị CH nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị CH xác định giữa chị và anh C không có tài sản chung và nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời anh Lê Ngọc C đến Tòa án làm việc, nhưng anh C vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ CH vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Lê Ngọc C; được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: không có. Bị đơn anh Lê Ngọc C vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - KH phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ CH xin ly hôn với anh Lê Ngọc C. Về con chung: Giao con chung Lê Nhật Anh T - sinh ngày 23/3/2012, cho chị Nguyễn Thị Mỹ CH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Về án phí: Chị CH phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CHỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Ngọc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Ngọc C.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ CH và anh Lê Ngọc C tự nguyện yêu thương nhau về sống chung và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Suối Tiên, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23/2012 ngày 17/8/2012 theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa chị CH và anh C xảy ra nhiều mâu thuẫn. Theo chị CH nguyên nhân là do cả hai luôn bất đồng về quan điểm sống trong suy nghĩ, hành động, không có sự đồng cảm, chia sẻ, chăm sóc, quan tâm đến nhau, dẫn đến kình cãi thường xuyên, tình cảm giữa vợ chồng ngày càng áp lực, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Giữa chị và anh C ngày càng có những khoảng cách càng lớn, nên cả hai đã không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2017 cho đến nay. Vì vậy, chị CH không còn dành tình cảm cho anh C. Anh Lê Ngọc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh không đến Tòa án làm việc. Điều này chứng tỏ, anh C không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên cho thấy hôn nhân giữa chị CH và anh C đã có mâu thuẫn dẫn đến gia đình không có hạnh phúc, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Chị Nguyễn Thị Mỹ CH được ly hôn với anh Lê Ngọc C.

[3]. Về con chung: vợ chồng chị CH và anh C có 01 con chung là Lê Nhật Anh T

- sinh ngày 23/3/2012. Hiện tại cháu T đang được chị CH trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị CH có yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là yêu cầu chính đáng của chị CH ph hợp với pháp luật nên cần để chị CH tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị CH xác định giữa chị và anh C không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Chị CH phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ CH được ly hôn với anh Lê Ngọc C.

[2]. Về con chung: Giao con chung Lê Nhật Anh T - sinh ngày 23/3/2012, cho chị Nguyễn Thị Mỹ CH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Lê Ngọc C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Lê Ngọc C có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, chị CH, anh C có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ CH nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà Chị CH đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0018450 ngày 09/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện DK - KH; Chị CH đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ