vanban.org

Bản án 10/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Cháng Thị S được ly hôn với anh Lầu A Thắng.

Về con chung: Giao các cháu là Lầu Thị D, sinh ngày 06/02/2011; Lầu A V, sinh ngày 25/10/2012 và Lầu Thị M, sinh ngày 18/11/2015 cho chị Cháng Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Lầu A Thkhông phải cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cháng Thị S + Lầu A Th"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Cháng Thị S được ly hôn với anh Lầu A Thắng.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
TỈNH ĐIỆNBIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2018/HNGĐ-ST
Ngày 01/11/2018
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thượng bà Đồng Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2018/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2018, về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXX-ST ngày 09 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Cháng Thị S - Sinh năm: 1992.

Nơi cư trú: Bản Xa Vua A, xã Phình G, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

- Bị đơn: Lầu A Th- Sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Bản Xa Vua A, xã Phình G, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên.

(Hiện đang chấp hành hình phạt tại Đội 02, phân trại số 1, trại giam Nà Tấu). Vắng mặt có lý do.

- Người phiên dịch: Anh Tráng A Say, sinh năm 1989.

Nơi cư trú: Tổ 10, thị trấn Điện Biên Đông, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2018 và quá trình xét xử, nguyên đơn chị Vàng Thị Dợ trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Cháng Thị S và Anh Lầu A Thkết hôn theo pháp luật năm 2012 tại UBND xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên trên tinh thần tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai người đã xây dựng gia đình yên ấm và có với nhau 03 người con. Tuy nhiên, đến năm 2015 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn anh Lầu A Ththường đi lang thang, ăn chơi không về giúp chị Sinh nuôi dạy con cái. Từ ngày mâu thuẫn anh Lầu A Thkhông về nhà, cho đến ngày 25 tháng 9 năm 2017 anh Lầu A Thbị Công an huyện Điện Biên Đông bắt về tội “Giao cấu với trẻ em” và bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xử phạt 42 tháng tù giam. Đến nay chị Cháng Thị S thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa và muốn sống cuộc sống riêng nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xem xét giải quyết cho chị ly hôn với anh Lầu A Thắng.

- Về con chung: Hai người có 03 con chung là các cháu: Lầu Thị D, sinh ngày 06/02/2011; Lầu A V, sinh ngày 25/10/2012; Lầu Thị M, sinh ngày 18/11/2015.

Hiện nay, cả ba cháu đang sống cùng với chị Chánh Thị Sinh, Bản Xa Vua A, xã Phình G, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên. Sau khi ly hôn chị Chánh Thị Sinh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu vì các cháu đang còn nhỏ và không yêu cầu anh Lầu A Thcấp dưỡng nuôi các con vì anh Thắng đang phải chấp hành án không có điều kiện.

- Về tài sản chung, riêng; nợ chung, nợ riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai đề ngày 18/5/2018, bị đơn Lầu A Thtrình bày:

- Về hôn nhân: Anh thừa nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị Sinh khai là đúng. Anh cũng cho rằng nguyên nhân dẫn đến việc chị Sinh làm đơn ly hôn là do anh không thường xuyên giúp được việc nhà cho vợ con và anh đã vi phạm pháp luật bị Tòa án xử phạt 42 tháng tù giam về tội “Giao cấu với tre em”. Vì những lý do nêu trên anh đồng ý ly hôn với chị Sinh vì do bản thân phải chấp hành án không thể chăm sóc cho vợ và các con.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 con chung là Lầu Thị D, sinh ngày 06/02/2011; Lầu A V, sinh ngày 25/10/2012 và Lầu Thị M, sinh ngày 18/11/2015 như chị Sinh đã trình bày. Sau khi ly hôn anh nhất trí để chị Sinh nuôi ba cháu và anh không phải cấp dưỡng cho các con.

- Về tài sản chung, riêng; nợ chung, nợ riêng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Người có quyền và lợi ích được bảo vệ: Cháu Lầu Thị D có đơn đề nghị gửi đến Tòa án thể hiện nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ.

* Kiểm sát viên tham dự phiên tòa có ý kiến: Về thủ tục tố tụng thì Thẩm phán và các thành phần của HĐXX, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật; về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cháng Thị S là chị Lầu A Thđược ly hôn với anh Lầu A Thắng; Về con chung: Giao các cháu Lầu Thị D, Lầu A V và Lầu Thị M cho chị Sinh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Thắng không phải cấp dưỡng nuôi con; Chị Sinh được miễn án phí DSST theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Bị đơn có đơn xin vắng mặt trong các buổi làm việc với Tòa án và xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa vì lý do đang chấp hành hình phạt tù tại Đội 02, phân trại I, trại giam Nà Tấu. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung vụ án:

- Xét yêu cầu ly hôn của chị: Cháng Thị S và anh Lầu A Thđã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 06/9/2012 tại UBND xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông theo đúng quy định của pháp luật trên tinh thần tự nguyện. Như vậy, HĐXX thấy rằng hôn nhân của hai anh chị đã xác lập kể từ ngày 06/9/2012 là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Nay, chị Cháng Thị S yêu cầu ly hôn anh Lầu A Thđã đồng ý. Tuy nhiên, HĐXX thấy rằng anh Lầu A Thđang chấp hành hình phạt tù với mức án 42 tháng tù giam, đến nay còn phải chấp hành 30 tháng tù giam nữa, vì vậy, trong khoảng thời gian dài anh Thắng không thể thực hiện được nghĩa vụ của một người chồng; bản thân chị Sinh cũng không còn tình cảm với anh Thắng, chị Sinh mong muốn được ly hôn với anh Thắng điều đó chứng tỏ cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vây, HĐXX cần chấp nhận cho chị Sinh được ly hôn với anh Thắng.

- Về con chung: Hai người có 03 con chung là Lầu Thị D, sinh ngày 06/02/2011; Lầu A V, sinh ngày 25/10/2012 và Lầu Thị M, sinh ngày 18/11/2015: HIện các cháu đang ở cùng chị Sinh tại Bản Xa Vua A, xã Phình G, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên. Hiện nay, anh Thắng đang chấp hành hình phạt tù, vì vậy, không thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ của một người cha, mặt khác, cháu Lầu Thị M và Lầu A V còn bé cần sự chăm sóc của người mẹ. Còn cháu: Lầu Thị D cũng có nguyện vọng muốn ở cùng với mẹ. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu cần chấp nhận là giao các cháu cho chị Cháng Thị S trực tiếp chăm sóc, giáo dục và không buộc anh Lầu A Thphải cấp dưỡng nuôi con theo các Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều này vừa hợp tình, hợp lý và hợp với nguyện vọng hai bên và các cháu.

Quyền nuôi con có thể được thay đổi theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 khi có yêu cầu.

- Về tài sản chung, riêng; nợ chung, nợ riêng của vợ chồng: Các đương sự khai không đề nghị Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Quá trình giải quyết vụ án chị Sinh có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí. Tại phiên tòa chị tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét miễn tiền án phí DSTT cho chị, bởi vì, bản thân và gia đình chị là người dân tộc Mông đang cư trú tại xã Phình Giàng nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình chị thuộc hộ nghèo theo giấy chứng nhận hộ nghèo số 303/GCN-UBND của Ủy ban nhân dân xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông. Vì vậy, cần áp dụng Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Cháng Thị S là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Cháng Thị S được ly hôn với anh Lầu A Thắng.

2. Về con chung: Giao các cháu là Lầu Thị D, sinh ngày 06/02/2011; Lầu A V, sinh ngày 25/10/2012 và Lầu Thị M, sinh ngày 18/11/2015 cho chị Cháng Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Lầu A Thkhông phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể được thay đổi sau ly hôn khi có yêu cầu.

3. Về án phí: Chị Cháng Thị S được miễn án phí DSTT.

Án xử sơ thẩm công khai kết thúc cùng ngày. Báo cho chị Cháng Thị S biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 26/6/2018). Anh Lầu A Thđược quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niên yết bản án./.

Cỡ chữ