vanban.org

Bản án 10/2018/DS-ST — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Thị Hƣơng S, bà Phùng Thị G, bà Phùng Thị L và ông Phan Văn C, hủy Quyết định số 1375 ngày 25/4/2012 của UBND huyện T về việc thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu dân cƣ xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụ…

Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Phùng Văn M và bà Phan Thị D đối với diện tích 295m2 (trong đó có 100m2 đất ở, 173,4m2 đất vƣờn và 21,6m2 đất ao đã đƣợc san lấp thành vƣờn) tại thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, thửa đất có kích thƣớc nhƣ sau: cạnh Đông Nam giáp đƣờng trục xã (ký … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp chia thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử đụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Thị Hƣơng S, bà Phùng Thị G, bà Phùng Thị L và ông Phan Văn C, hủy Quyết định số 1375 ngày 25/4/2012 của UBND huyện T về việc thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu dân cƣ xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụ…
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/DS-ST
Ngày 29-11-2018
“V/v hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
chia di s n thừa kế”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chìu và bà Nguyễn Thị Hoan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2016/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2016 về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chia di sản thừa kế theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2018/QĐST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2018 giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phùng Thị Hƣơng S, sinh năm 1956; trú tại: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng và bà Phùng Thị G, sinh năm 1966; trú tại: Thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Phùng Văn M, sinh năm 1954 và bà Phan Thị D, sinh năm 1956; đều trú tại: Thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (ông M có mặt, bà D vắng mặt).

- Ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị D: Ông Phùng Văn M (đ ng th i là bị đơn, có lý lịch và địa ch nh trên)

- Ngƣời đại diện theo ủy quyền của ông Phùng Văn M: Ông Chu Thanh N, sinh năm 1969; trú tại: Thôn V, xã K, huyện K1, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

3. Ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Uỷ ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc S - Chủ tịch UBND huyện.

Ngƣời đại diện theo ủy quyền của ông S: Ông Nguyễn Thành C - Trƣởng phòng Tài nguyên và Môi trƣờng huyện T(theo văn bản ủy quyền số 424/UQ-UBND, ngày 15/6/2018), ông C có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bà Phùng Thị L, sinh năm 1960 và ông Phan Văn C, sinh năm 1958; cùng trú tại: Thôn T3, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

- Bà Phùng Thị N, sinh năm 1963; trú tại: Thôn T3, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

- Bà Phùng Thị V, sinh năm 1970; trú tại: Thôn H, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

Ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà N và bà V: Ông Phùng Văn M, sinh năm 1954; trú tại: Thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

- Chị Phùng Thị D1, sinh năm 1980; trú tại: Thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

- Chị Phùng Thị Đ, sinh năm 1983; trú tại: Thôn K, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (có mặt).

- Chị Phùng Thị M1, sinh năm 1990; trú tại: Thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (đề nghị xét xử vắng mặt).

4. Nh ng ng i làm chứng: ông Trƣơng Công H, trú tại: Thôn Ngọc Chấn, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, ông Phạm Văn Đ1, ông Đỗ Tuấn T, bà Nguyễn Thị L; đều trú tại: Thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, b n tự khai, biên b n lấy l i khai cùng các tài liệu khác có trong h sơ, nguyên đơn là bà Phùng Thị H ơng S và bà Phùng Thị G trình bày:

Bố mẹ các bà là cụ Phùng Văn M1 chết ngày 03/02/2013, cụ Đỗ Thị T chết ngày 26/10/2010. Hai cụ có 09 ngƣời con chung nhƣng có 03 ngƣời chết từ lúc nhỏ, chỉ còn 06 ngƣời gồm: ông Phùng Văn M, bà Phùng Thị Hƣơng S, bà Phùng Thị L, bà Phùng Thị N, bà Phùng Thị G và bà Phùng Thị V, ngoài ra không có con riêng hoặc con nuôi nào khác. Hai cụ chết không để lại di chúc. Khi còn sống, các cụ có khối tài sản chung là diện tích đất 898m2 thuộc thôn T1, xã T2, huyện T và ngôi nhà cấp bốn (ba gian) xây dựng năm 1983, nguồn gốc đất là do tổ tiên để lại, đất chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhƣng các cụ đã đứng tên sử dụng hợp pháp, thể hiện tại sổ mục kê 299 của UBND xã T2, ngoài ra bố mẹ các bà không có tài sản gì khác.

Ông M là con trai trƣởng sống cùng hai cụ từ nhỏ, khi ông M lấy vợ thì cả vợ chồng và các con ông M vẫn sống cùng nhà với hai cụ. Đến năm 2003, do nhà chật chội nên hai cụ đã đồng ý cho vợ chồng ông M, bà D xây dựng một ngôi nhà ở riêng trên một phần đất của các cụ (cạnh ngôi nhà cấp bốn).

Đến năm 2005, cụ M1, cụ T đã bán cho vợ chồng con gái là Phùng Thị L 5,5m đất chiều ngang mặt đƣờng, kéo dài vào hết chiều dài đất với giá 30 triệu đồng. Hai cụ đã nhận tiền và cắm cọc xác định mốc giới đất cho vợ chồng bà L. Vợ chồng bà L đã xây tƣờng bao xung quanh đất và xây dựng nhà ở kiên cố trên đất đó. Còn thủ tục chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật giữa hai cụ và vợ chồng bà L nhƣ thế nào, các bà không biết.

Sau khi cụ M1 và cụ T chết, bà G và vợ chồng ông M, bà D là ngƣời trực tiếp quản lý và sử dụng nhà đất của hai cụ (bà G là con thứ 5 đã ly hôn và về sống trong ngôi nhà cấp bốn của hai cụ từ khi hai cụ còn sống). Trên thửa đất của cụ M1, cụ T hiện có hai ngôi nhà hai tầng của ông M và bà D (một ngôi nhà xây năm 2003 và một ngôi nhà xây năm 2015), tƣờng bao quanh hai ngôi nhà trên, mái tôn, cổng, sân lát gạch đỏ và ngôi nhà cấp bốn của cụ M1, cụ T xây dựng năm 1983 đã cũ nát. Trên thửa đất của cụ M1, cụ T có một phần diện tích ao nhƣng vào năm 2018 bà G đã mua cát về san lấp thành đất vƣờn hết 20 triệu đồng.

Năm 2015, vợ chồng ông M, bà D định làm thủ tục tặng cho con gái một phần đất của cụ M1, cụ T nên các bà đã phản đối. Sau khi đi tìm hiểu, các bà mới biết từ năm 1998, vợ chồng ông M, bà D đã tự ý kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ M1, cụ T mà không hỏi ý kiến, cũng nhƣ không cho hai cụ biết. Năm 2000, vợ chồng ông M, bà D đƣợc UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 251401, thửa số 171, 172, tờ bản đồ số 06, diện tích 898m2 (sau đây viết t t là GCNQSD đất s Q 251401) khi đó cụ M1, cụ T vẫn sinh sống trên đất này nhƣng không biết thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất M1g tên ông M, bà D (vì thế các cụ mới bán đất cho vợ chồng bà L vào năm 2005). Theo thỏa thuận bán đất trƣớc đó của cụ M1, cụ T cho vợ chồng bà L, đến năm 2012, vợ chồng ông M, bà D đã làm thủ tục chuyển nhƣợng một phần quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà L. Do đó, ngày 25/4/2012, UBND huyện T đã thu hồi GCNQSD đất số Q 251401 M1g tên ông M, bà D và cấp giấy chứng quyền sử dụng đất số BĐ 159525, thửa đất số 1043, tờ bản đồ số 06, diện tích 226m2 cho bà Phùng Thị L và ông Phan Văn C (sau đây viết t t là GCNQSD đất s BĐ 159525), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 159526, thửa đất số 172, tờ bản đồ số 06, diện tích 672m2 cho ông Phùng Văn M và bà Phan Thị D (sau đây viết t t là GCNQSD đất s BĐ 159526) . Các bà khẳng định cụ M1, cụ T chƣa khi nào chuyển nhƣợng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông M, bà D nên việc UBND huyện T cấp GCNQSD đất lần đầu số Q 251401 M1g tên ông M , bà Diềm là sai và từ GCNQSD đất này, ông M, bà D đã làm thủ tục chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất cho bà L, ông C nên GCNQSD đất số BĐ 159526 M1g tên ông Phùng Văn M và bà Phan Thị D vào ngày 25/4/2012 cũng sai.

Vì vậy, các bà đề nghị Tòa án hủy GCNQSD đất số BĐ 159526; đồng thời chia thừa kế quyền sử dụng đất cho 06 ngƣời con của cụ M1, cụ T còn sống. Theo số liệu thẩm định đo đạc thực tế thì tổng diện tích đất mà ông M, bà D đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2012 là 564m2 (chứ không phải 672m2) nên các bà chấp nhận diện tích đất của cụ M1, cụ T là 564m2. Các bà cũng xác định năm 2003, cụ M1, cụ T đã cho vợ chồng ông M, bà D xây dựng nhà trên một phần đất nên phần đất có ngôi nhà này (kéo từ mặt đƣờng đến hết đất là 139m2) đã thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông M, bà D, không c n là di sản thừa kế; năm 1993, hộ gia đình ông M bị trừ 156m2 ruộng ngoài đồng vào đất vƣờn của cụ M1, cụ T nên các bà cũng nhất trí xác định 156m2 đất vƣờn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông M, bà D, không c n là di sản thừa kế; phần đất mà cụ M1, cụ T bán cho vợ chồng bà L, ông C vào năm 2005 (276m2) cũng đã thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà L, ông C, không phải đất thừa kế.

Do đó, các bà xác định di sản thừa kế của cụ M1, cụ T là 564m2 - (139m2 + 156m2) = 269m2 đất và ngôi nhà cấp bốn xây dựng năm 1983. Các bà chỉ đề nghị chia tài sản thừa kế là diện tích đất 269m2 cho 06 ngƣời, còn ngôi nhà cấp bốn đã cũ nát, các bà không đề nghị chia. Bà G đề nghị đƣợc chia b ng đất vì bà vẫn ở trên đất của bố mẹ từ trƣớc và không có chỗ ở nào khác, bà G tự nguyện không đề nghị những ngƣời đƣợc chia thừa kế phần đất có ao đã đƣợc bà san lấp phải trả tiền san lấp cho bà. Bà S cũng đề nghị chia thừa kế b ng đất nhƣng phần bà đƣợc hƣởng bà tự nguyện đề nghị T a án giao cho bà G đƣợc toàn quyền quản lý, sử dụng.

Ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phùng Thị L trình bày các nội dung nh nguyên đơn đã trình bày. Ngoài ra bà c n trình bày thêm, năm 2005 bố mẹ bà có bán cho vợ chồng bà 10 thƣớc đất, trƣớc khi bán các cụ đã họp tất cả các con lại để thông báo việc bán đất và tất cả các anh chị em bà đều nhất trí. Vào ngày 16/01/2005, vợ chồng bà đã giao tiền (30 triệu đồng) cho bố mẹ (hai bên có viết giấy chuyển nhƣợng và giao nhận tiền cho nhau) và các cụ đã đánh dấu các cạnh của đất cho vợ chồng bà (cụ thể là phần đất giáp nhà ông Vân, chiều mặt đƣờng 5,5m, kéo dài hết đất), vợ chồng bà đã san lấp phần ao và xây tƣờng bao quanh đất. Đến năm 2012, vợ chồng bà đề nghị cụ M1 làm thủ tục chuyển nhƣợng đất theo quy định cho bà, lúc ấy cụ M1 già yếu nên đã bảo ông M đi làm thủ tục giúp cụ, ông M đã nhờ ông Phạm Văn Đ1 (là địa chính xã T2 và là anh em cọc chèo với ông M) làm các thủ tục theo quy định của pháp luật, sau đó bà đã nhận đƣợc GCNQSD đất số BĐ 159525, thửa đất số 1043, tờ bản đồ số 06, diện tích 226m2 M1g tên bà và ông C cùng bộ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc đó bà mới biết thửa đất của vợ chồng bà đƣợc tách ra từ thửa đất đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2000 M1g tên ông M, bà D. Bà xác định bố mẹ bà chƣa bao giờ chuyển nhƣợng hay tặng cho quyền sử dụng đất cho ông M, bà D, do đó UBND huyện T cấp GCNQSD đất số Q 251401 vào ngày 10/7/2000 cho ông M, bà D là sai, do đó thủ tục cấp GCNQSD đất số BĐ 159526 cho ông Phùng Văn M và bà Phan Thị D và GCNQSD đất số BĐ 159525 cho vợ chồng bà vào ngày 25/4/2012 cũng không đúng. Bà đề nghị Tòa án công nhận vợ chồng bà đƣợc quyền sử dụng hợp pháp đất thực tế là 276m2 (không phải 226m2 nhƣ trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và xử lý GCNQSD đất số BĐ 159525 đã cấp cho vợ chồng bà theo quy định của pháp luật. Bà cũng hoàn toàn đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà S và bà G, đề nghị hủy GCNQSD đất số BĐ 159526 của ông M, bà D, công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông M, bà D với 295m2, chia tài sản thừa kế là diện tích đất 269m2 cho 06 ngƣời, nhƣng phần đất bà đƣợc hƣởng bà tự nguyện đề nghị T a án giao cho bà G đƣợc toàn quyền quản lý, sử dụng.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phan Văn C (chồng bà L) trình bày hoàn toàn thống nhất với lời trình bày và ý kiến của bà L.

Theo các l i khai trong quá trình gi i quyết vụ án, bị đơn là ông Phùng Văn M (bà Phan Thị D ủy quyền toàn bộ cho ông M) trình bày: Về tên bố mẹ, ngày mất và tên các anh chị em là con chung của bố mẹ, ông thống nhất với lời trình bày của các nguyên đơn. Bố mẹ ông là cụ Phùng Văn M1 và cụ Đỗ Thị T không có ngƣời con riêng hay con nuôi nào khác.

Trƣớc năm 2000, hai cụ có 898m2 đất ở tại thôn T1, xã T2, huyện T, nguồn gốc đất do tổ tiên để lại và một ngôi nhà cấp bốn xây dựng năm 1983. Năm 2000, bố mẹ ông đã làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng toàn bộ thửa đất trên cho vợ chồng ông, thủ tục tặng cho nhƣ thế nào ông không biết, chỉ biết năm 2003 (có lời khai là năm 2000, có lời khai là trƣớc khi cụ M1 chết), cụ M1 đã đƣa GCNQSD đất đƣợc UBND huyện T cấp ngày 10/7/2000 M1g tên vợ chồng ông cho ông, đồng thời đƣa cho ông một tờ giấy viết tay với nội dung cụ M1 cho vợ chồng ông đƣợc đứng tên quyền sử dụng đất và nhà (ông M đã xuất trình cho Tòa án 01 bản phô tô giấy chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất ký tên Phùng Văn M1, không ghi ngày tháng). Ông không xác định đƣợc bố ông viết giấy cho đất vào thời gian nào, cũng không chứng kiến việc cụ M1 viết giấy này. Năm 2003, bố mẹ cho vợ chồng ông xây dựng ngôi mái b ng riêng cạnh ngôi nhà của bố mẹ, đến năm 2013, vợ chồng ông lại tiếp tục xây dựng một ngôi nhà hai tầng cạnh ngôi nhà xây dựng năm 2003.

Khi bố mẹ ông còn sống (vào năm nào ông không nhớ), hai cụ đã bảo ông bà cắt cho vợ chồng bà L một suất đất, ông bà và các anh chị em khác đều nhất trí điều này, bà L đã tự nguyện cho cụ M1, cụ T số tiền khoảng gần 30 triệu để hai cụ dƣỡng già nhƣng đến năm 2012, ông bà mới làm thủ tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà L tại cơ quan có thẩm quyền. Do đó, UBND huyện T đã thu hồi lại GCNQSD đất cũ của ông bà và cấp GCNQSD đất số BĐ 159526, diện tích 672m2 cho vợ chồng ông và GCNQSD đất số BĐ 159525, diện tích 226m2 cho vợ chồng bà L.

Ông xác định ông bà đã đƣợc cụ M1, cụ T tặng cho quyền sử dụng đất nên việc UBND huyện T cấp GCNQSD đất cho vợ chồng ông bà vào năm 2000 là hợp pháp và thủ tục cấp GCNQSD đất BĐ 159526 của ông bà cũng hợp pháp, ông không đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên; giả sử Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thì ông cũng không đề nghị UBND huyện T phải bồi thƣờng thiệt hại, đây là việc riêng của vợ chồng ông với UBND huyện T, không liên quan đến Tòa án. Ông khẳng định việc đo đạc thẩm định của Tòa án với diện tích đất thực tế của vợ chồng ông là 564m2 (không phải 672m2 nhƣ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp) hoàn toàn khách quan, đúng mốc giới của gia đình ông và không có tranh chấp với hộ nào khác nên ông bà đồng ý với diện tích thực tế này.

Vì đất của ông bà sử dụng hợp pháp nên ông bà không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà S, bà G. Nếu T a án có căn cứ xác định việc tặng cho đất của cụ M1, cụ T cho vợ chồng ông không hợp pháp thì ông bà cũng không đồng ý chia thừa kế vì vào năm 1993, nhà nƣớc đã trừ ruộng ngoài đồng của cụ M1, cụ T và hộ gia đình ông vào diện tích đất vƣờn là 360m2; mặt khác đây là đất hƣơng hỏa của tổ tiên để lại, theo truyền thống, ông là con trai trƣởng nên đƣợc hƣởng để thờ cúng tổ tiên. C n đối với ngôi nhà cấp bốn xây năm 1983 ông cũng đồng ý không yêu cầu chia thừa kế, nếu bà G và những ngƣời thừa kế khác sử dụng đến đất thì có quyền phá ngôi nhà này đi để lấy mặt b ng, ông bà không có ý kiến và không yêu cầu trả tài sản gì.

Nh ng ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phùng Thị N và bà Phùng Thị V trình bày gi ng nh l i trình bày của ông M, bà D. Bà N và bà V cũng không đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M, bà D và chia thừa kế quyền sử dụng đất. Giả sử có căn cứ chia thừa kế, các bà tự nguyện tặng cho lại phần tài sản mình đƣợc hƣởng cho vợ chồng ông M quản lý, sử dụng, các bà không lấy tài sản gì, các bà cũng thống nhất không đề nghị chia tài sản là ngôi nhà cấp bốn của cụ M1, cụ T. Cả bà N và bà V đều ủy quyền cho ông M đƣợc toàn quyền thay mặt các bà giải quyết vụ án tại Tòa án.

Chị Phùng Thị D1, chị Phùng Thị Đ và chị Phùng Thị M1 đều xác định bố mẹ các chị là ông M, bà D đã trả đủ cho các chị tiêu chuẩn đất 03 b ng ruộng ở ngoài đồng nên phần đất vƣờn 156m2 bị trừ ruộng 03 ngoài đồng chỉ thuộc phần sử dụng của riêng ông M, bà D, không liên quan đến các chị nữa, các chị không đề nghị Tòa án chia cho các chị.

Ng i đại diện hợp pháp của UBND huyện T trình bày: Hiện nay hồ sơ cấp GCNQSD đất số Q 251401, thửa số 171, 172, tờ bản đồ số 06, diện tích 898m2 vào ngày 10/7/2000 cho ông Phùng Văn M và bà Phan Thị D UBND huyện T không quản lý mà đã chuyển về UBND xã T2 lƣu giữ nên không cung cấp cho Tòa án đƣợc. Việc UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho vợ chồng ông M, bà D là thực hiện theo Quyết định số 2946/1999/QĐ-UB của UBND tỉnh Hải Dƣơng, cấp lần đầu, đồng loạt trên toàn huyện. Thủ tục chung là UBND cấp xã có trách nhiệm lập, xét duyệt, công khai, hoàn thiện hồ sơ, chuyển ph ng địa chính huyện kiểm tra chất lƣợng hồ sơ và trình UBND huyện ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên, cụ thể hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M, bà D gồm những loại giấy tờ gì thì UBND huyện T không nắm đƣợc vì không có hồ sơ. Ngày 25/4/2012, UBND huyện T đã thu hồi GCNQSD đất số Q 251401 cấp ngày 10/7/2000 cho ông M, bà D để cấp đổi thành các GCNQSD đất số BĐ 159526 cho ông M, bà D và GCNQSD đất số BĐ 159525 cho bà L, ông C. Nay bà Phùng Thị Hƣơng S và bà Phùng Thị G đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên, quan điểm của UBND huyện T là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân huyện T đã tiến hành thu thập hồ sơ cấp GCNQSD đất số Q 251401, cấp ngày 10/7/2000 của ông M, bà D tại UBND xã T2 nhƣng UBND xã T2 không lƣu giữ bất cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nào của các hộ gia đình trong xã T2 vào năm 2000 nói chung và hồ sơ cấp GCNQSD đất số Q 251401 của ông M, bà D nói riêng.

Tại biên bản xác minh ngày 13/7/2017 và ngày 01/11/2018, đại diện lãnh đạo UBND xã T2 và cán bộ địa chính xã cung cấp: Trƣớc năm 1980, cụ Phùng Văn M1 và cụ Đỗ Thị T đã sử dụng hợp pháp thửa đất 700m2, loại đất ở tại thôn T1, xã T2, huyện T, các cụ chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhƣng đã có tên trong sổ mục kê 299. Tuy nhiên, đến ngày 10/7/2000, thửa đất của cụ M1, cụ T đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu lại M1g tên ông Phùng Văn M và bà Phan Thị D (là con trai và con dâu cụ M1, cụ T) với diện tích 898m2, UBND xã cũng không nắm đƣợc lý do vì sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại M1g tên ông M, bà D. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng loạt lần đầu tại UBND xã T2 vào năm 2000, ông Trƣơng Công H là chủ tịch UBND xã và ông Phạm Văn Đ1 là cán bộ địa chính là ngƣời trực tiếp thực hiện. Việc diện tích đất có sự tăng lên (từ 700m2 trong sổ mục kê 299 lên 898m2 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là do sai số trong quá trình đo đạc chứ không có sự thay đổi hiện trạng cũng nhƣ lấn chiếm hoặc tranh chấp với các hộ khác; Năm 1993, khi nhà nƣớc chia đất 03 (đất ruộng) cho các hộ gia đình trong xã, hộ gia đình ông M gồm 5 ngƣời (vợ chồng ông M và 3 ngƣời con) đƣợc chia 3000m2, tuy nhiên hộ ông M chỉ đƣợc chia 2846m2 đất 03, diện tích 156m2 còn lại đƣợc tính vào diện tích đất vƣờn của cụ M1 và cụ T, bản thân cụ M1, cụ T cũng bị trừ 168m2 đất ruộng vào đất vƣờn của mình.

Những ngƣời làm chứng là ông Trƣơng Công H và ông Phạm Văn Đ1 trình bày: Năm 2000, theo chủ trƣơng của nhà nƣớc, UBND xã T2 rà soát, lập hồ sơ để đề nghị UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho các hộ dân ở xã T2, trong đó có hộ ông Phùng Văn M và Phan Thị D. Ông Điều cung cấp, hồ sơ để đƣợc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 của các hộ nói chung và hộ ông M nói riêng đều gồm 01 tờ trích lục bản đồ và đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các giấy tờ này đều có chữ ký của ngƣời xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông M là ngƣời trực tiếp ký các giấy tờ để đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nộp cho UBND xã, do đó ông M, bà D đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 10/7/2000. Cả ông Hiện và ông Điều đều khẳng định nguồn gốc thửa đất đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M, bà D vào năm 2000 là của cụ Phùng Văn M1 và cụ Đỗ Thị T. Cụ M1 và cụ T chƣa bao giờ làm thủ tục tặng cho hay chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất cho ông M, bà D cả.

Những ngƣời làm chứng là ông Đỗ Tuấn T và bà Hoàng Thị Liễu đều xác định có chứng kiến việc bà Phùng Thị L trả cho cụ M1 và cụ T 22 triệu đồng và 1 cây vàng 9999 để mua đất, lúc đó còn có ông M, bà D, bà S, bà G, bà N, anh Duy chứng kiến.

Theo đề nghị của nguyên đơn là bà S, bà G, T a án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Theo GCNQSD đất số BĐ 159526 ngày 25/4/2012 của ông M, bà D thì diện tích đất đƣợc cấp là 672m2, tuy nhiên kết quả thẩm định tài sản thể hiện hiện trạng thửa đất trên là 564m2, trên đất có hai ngôi nhà của vợ chồng ông M xây dựng, tƣờng bao quanh hai ngôi nhà, mái lợp tôn, cổng, sân lát gạch đỏ và một ngôi nhà cấp bốn của cụ M1, cụ T, phần ao đã đƣợc san lấp thành đất vƣờn. Theo GCNQSD đất số BĐ 159525 ngày 25/4/2012 của bà L, ông C thì diện tích đất đƣợc cấp là 226m2, tuy nhiên kết quả thẩm định tài sản thể hiện hiện trạng thửa đất trên là 276m2. Các chủ sử dụng đất và các hộ giáp ranh đều khẳng định mốc giới đất vẫn giữ nguyên nhƣ trƣớc khi đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có sự xê dịch cũng nhƣ không có lấn chiếm hay tranh chấp về mốc giới. Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng huyện T giải thích việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2012 cho vợ chồng ông M và vợ chồng bà L theo kích thƣớc, diện tích đã đo đạc khi lập hồ sơ địa chính năm 1998 theo ảnh chụp hàng không, xác định chƣa chính xác ranh giới, mốc giới sử dụng đất và tính diện tích chƣa đúng. Đối với ông Phùng Văn M, bà Phan Thị D có hiện trạng sử dụng đất là 564m2 (giảm so với diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 108m2), trong đó có 300m2 là đất ở, diện tích còn lại là đất vƣờn, ao. Đối với ông Phan Văn C và bà Phùng Thị L có hiện trạng sử dụng là 276m2 (tăng so với diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 50m2), toàn bộ diện tích này là vƣờn trồng cây lâu năm.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 24/8/2018 và bảng kết quả định giá tài sản thể hiện: Diện tích đất 564m2 trị giá 880.468.500 đồng (trong đó đất ở 300m2 là 600.000.000 đồng; đất vƣờn 173,4m2 là 179.902.500 đồng; đất ao đã đƣợc san lấp thành đất vƣờn 90,6m2 là 93.771.000 đồng, công san lấp ao là 6.795.000 đồng); diện tích đất 276m2 trị giá 291.236.500 đồng (trong đó đất vƣờn 208,6m2 là 216.422.500 đồng; đất ao đã đƣợc san lấp thành đất vƣờn 67,4m2 là 69.759.000 đồng; công san lấp ao là 5.055.000 đồng). Ngôi nhà cấp bốn xây năm 1983 trị giá 3.180.762 đồng.

Đối với hai ngôi nhà hai tầng, tƣờng bao xung quanh hai ngôi nhà, mái lợp tôn ở sân, cổng, sân lát gạch hoa của ông M và bà D, nguyên đơn không xác định đƣợc giá trị những tài sản trên; ông M, bà D cản trở, không cho hội đồng định giá tiến hành định giá nên hội đồng định giá không xác định đƣợc giá trị.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhƣng bị đơn không đến Tòa án làm việc nên vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc.

Tại phiên t a, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng thời bổ sung thêm yêu cầu đề nghị Tòa án hủy Quyết định số 1375/QĐ - UBND ngày 25/4/2012 của UBND huyện T về việc thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu dân cƣ xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng. Bà S vẫn tự nguyện cho bà G phần tài sản mà mình đƣợc hƣởng.

Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà L, ông C giữ nguyên yêu cầu của mình và nhất trí với quan điểm của nguyên đơn, bà L cũng đề nghị cho bà G phần tài sản mà bà đƣợc hƣởng.

Bị đơn và ngƣời đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều trình bày ông M, bà D đã đƣợc cụ M1, cụ T tặng cho quyền sử dụng đất từ năm 2000 rồi nên không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn, song có trình bày nếu HĐXX có căn cứ chia thừa kế tài sản của cụ M1, cụ T thì đề nghị xem xét quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông đối với phần đất đã xây nhà năm 2003 và phần đất bị trừ vào ruộng 03 ở ngoài đồng; ông M cũng không đề nghị chia tài sản thừa kế là ngôi nhà cấp bốn xây năm 1983.

Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà N, bà V cũng thống nhất với ý kiến của bị đơn và khẳng định nếu có có căn cứ chia thừa kế, các bà tự nguyện cho ông M phần tài sản bà đƣợc hƣởng.

Chị D1, chị Đ vẫn xác định phần đất vƣờn 156m2 là thuộc tiêu chuẩn riêng của ông M, bà D, các chị không đề nghị đƣợc chia.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong thời hạn giải quyết vụ án, các bên đƣơng sự không tự thỏa thuận đƣợc các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Toà án nhân dân huyện T đƣa vụ án ra xét xử, các đƣơng sự đã cơ bản thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Việc xét xử tại phiên tòa thực hiện đúng trình tự luật định. Về hƣớng giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX căn cứ các điều 161, 611, 612, 613, 614, 623, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự; Điều 30 Luật Tố tụng hành chính; Điều 34, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy Quyết định số 1375 ngày 25/4/2012 của UBND huyện T; hủy GCNQSD đất số BĐ 159526 ngày 25/4/2012 và GCNQSD đất số BĐ 159525 ngày 25/4/2012; công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của vợ chồng ông M, bà D với diện tích 295m2 và vợ chồng bà L, ông C với diện tích 276m2; chia thừa kế quyền sử dụng đất của cụ M1, cụ T là 269m2, chấp nhận sự tự nguyện của bà N, bà V cho ông M phần tài sản thừa kế của mình, sự tự nguyện của bà S, bà L cho bà G phần tài sản thừa kế của mình, chia cho ông M và bà G mỗi ngƣời 134,5m2 đất; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông M, bà G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên t a, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Bị đơn là bà Phan Thị D vắng mặt tại phiên tòa nhƣng đã ủy quyền cho ông Phùng Văn M giải quyết vụ án, ông M có mặt tại phiên tòa; Ngƣời đại diện hợp pháp của UBND huyện T là ông Nguyễn Thành Chung có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phùng Thị M1 cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1, 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bà D, ông Chung và chị M1.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn đã mời ông Hoàng Xuân Triệu là ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và T a án đã làm thủ tục đăng ký ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông Hoàng Xuân Triệu vắng mặt, nguyên đơn là bà Phùng Thị Hƣơng S và bà Phùng Thị G từ chối, không đồng ý để ông Triệu làm ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nữa. Vì vậy, ông Hoàng Xuân Triệu không đƣợc xác định là ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trong vụ án này.

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 17/6/2016, nguyên đơn đề nghị hủy quyết định cá biệt của UBND huyện T và yêu cầu chia thừa kế, Tòa án nhân dân huyện T đã thụ lý vụ án trên vào ngày 22/6/2016 (trƣớc ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực pháp luật) nên Tòa án nhân dân huyện T tiếp tục giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Tại phiên t a, nguyên đơn là bà Phùng Thị Hƣơng S và bà Phùng Thị G bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện đề nghị HĐXX hủy Quyết định số 1375 ngày 24/5/2012 của UBND huyện T vì từ Quyết định này mà UBND huyện mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 159526 ngày 25/4/2012 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 159525 ngày 25/4/2012. HĐXX thấy yêu cầu khởi kiện bổ sung này không vƣợt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, hơn nữa việc xem xét giải quyết đối với Quyết định số 1375 ngày 24/5/2012 của UBND huyện T trong cùng vụ án này mới đảm bảo giải quyết vụ án triệt để nên HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà S và bà G trong cùng vụ án này.

2. Về nội dung:

2.1. Đ i với yêu cầu hủy Quyết định s 1375 ngày 25/4/2012 của UBND huyện T; hủy GCNQSD đất s BĐ 159526 ngày 25/4/2012 và GCNQSD đất s BĐ 159525 ngày 25/4/2012:

Tại sổ mục kê và bản đồ 299 của xã T2 thể hiện cụ Phùng Văn M1 đƣợc sử dụng chính thức 700m2 đất, tại số thửa 150 thuộc thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng. Cả nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều khẳng định thửa đất trên là của cụ Phùng Văn M1 và cụ Đỗ Thị T, nguồn gốc đất do tổ tiên để lại, các cụ chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhƣng đã sử dụng ổn định từ trƣớc năm 1980. Đến ngày 10/7/2000, thửa đất trên đƣợc UBND huyện T cấp GCNQSD đất số Q 251401, thửa số 171, 172, tờ bản đồ số 06, diện tích 898m2, M1g tên chủ sử dụng là ông Phùng Văn M và bà Phan Thị D nên có căn cứ khẳng định nguồn gốc thửa đất này là của cụ M1 và cụ T.

Ông M khẳng định bố mẹ ông bà là cụ M1, cụ T đã tặng cho vợ chồng ông thửa đất trên, thủ tục tặng cho do bố ông làm, còn làm nhƣ thế nào ông không biết nhƣng ông đã xuất trình cho Tòa án 01 bản phô tô “giấy chuyển quyền sử dụng đất” và xác định đây là giấy do cụ M1 viết để tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông, ngoài ra ông không xuất trình đƣợc căn cứ, tài liệu nào khác. HĐXX thấy các lời khai của ông M có sự mâu thuẫn nhau, có lời khai ông trình bày cụ M1 đƣa cho ông tờ giấy chuyển nhƣợng này vào năm 2000, có lời khai ông trình bày cụ M1 đƣa cho ông năm 2003, có lời khai ông lại trình bày cụ M1 đƣa giấy chuyển nhƣợng cho ông trƣớc khi cụ chết, nhƣng ông xác nhận ông không chứng kiến việc cụ M1 viết giấy, cũng không biết cụ viết khi nào. T a án đã nhiều lần yêu cầu ông xuất trình bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp giấy chuyển quyền này để Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật nhƣng ông không xuất trình. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự, bản phô tô giấy chuyển quyền sử dụng đất mà ông M giao nộp cho T a án không đủ căn cứ để xác định vợ chồng ông đã đƣợc cụ M1, cụ T tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp.

Mặt khác, cả UBND huyện T và UBND xã T2 đều không lƣu giữ hồ sơ và không nắm đƣợc trình tự, thủ tục cấp GCNQSD đất số Q 251401 ngày 10/7/2000 cho ông M, bà D. Các con của cụ M1, cụ T là bà S, bà L, bà G đều khẳng định bố mẹ các bà chƣa bao giờ tặng cho hoặc chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông M và cũng không biết việc vợ chồng ông M, bà D đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất của mình. Điều này phù hợp với lời khai của những ngƣời làm chứng là ông Nguyễn Công Hiện, ông Phạm Văn Đ1 - nguyên là chủ tịch và cán bộ địa chính xã T2, trực tiếp làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân xã T2 vào năm 2000.

Vì vậy, không có căn cứ xác định cụ M1, cụ T đã chuyển nhƣợng, tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông M, bà D nên ông M, bà D không có quyền sử dụng hợp pháp toàn bộ thửa đất này. Việc UBND huyện T cấp GCNQSD đất số Q 251401 ngày 10/7/2000 cho ông M, bà D là không hợp pháp. Do đó, năm 2012, ông M, bà D làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Phùng Thị L và ông Phan Văn C là không đúng quy định của pháp luật nên Quyết định số 1375 ngày 25/4/2012 của UBND huyện T về việc thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu dân cƣ xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; GCNQSD đất số BĐ 159526 ngày 25/4/2012 và GCNQSD đất số BĐ 159525 ngày 25/4/2012 cũng không hợp pháp. Hơn nữa, trong GCNQSD đất số BĐ 159526 ghi thửa đất số 172, tờ bản đồ số 06, diện tích 672m2 nhƣng hiện trạng thửa đất này có diện tích 564m2; GCNQSD đất số BĐ 159525, ghi thửa đất số 1043, tờ bản đồ số 06, diện tích 226m2 nhƣng hiện trạng thửa đất này có diện tích 276m2. Phòng Tài nguyên và Môi trƣờng huyện T cũng xác định diện tích đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chƣa chính xác, không đúng với thực trạng. GCNQSD đất số Q 251401 ngày 10/7/2000 đã bị UBND huyện T thu hồi và hủy bỏ để cấp GCNQSD đất số BĐ 159526 và GCNQSD số BĐ 159526 nên cần chấp nhận yêu cầu của bà S, bà G, bà L, ông C, hủy Quyết định số 1375 ngày 25/4/2012 của UBND huyện T về việc thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu dân cƣ xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; hủy GCNQSD đất số BĐ 159526 và GCNQSD đất số BĐ 159525 ngày 25/4/2012 của UBND huyện T.

Ông M, bà D và bà L, ông C không đề nghị Tòa án giải quyết việc bồi thƣờng thiệt hại do hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên HĐXX không xem xét giải quyết.

2.2. Đ i với yêu cầu chia di s n thừa kế của nguyên đơn:

Về thời hiệu khởi kiện và cách chia di sản thừa kế: Cụ Đỗ Thị T chết ngày 26/10/2010, cụ Phùng Văn M1 chết ngày 03/02/2013, trƣớc khi chết, các cụ không để lại di chúc. Vì vậy, căn cứ Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 623, Điều 650 Bộ luật dân sự, yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ M1 và cụ T vẫn còn thời hiệu và di sản thừa kế đƣợc chia theo pháp luật.

Về hàng thừa kế: Trên cơ sở các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa của các đƣơng sự, có đủ cơ sở để xác định: Cụ M1, cụ T sinh đƣợc 09 ngƣời con nhƣng 03 ngƣời đã chết từ nhỏ, hiện nay chỉ còn 06 ngƣời con còn sống, ngoài ra các cụ không có con riêng hay con nuôi nào khác. Nhƣ vậy, theo quy định tại Điều 611, Điều 613, Điều 614, khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự thì những ngƣời thừa kế theo pháp luật của cụ M1, cụ T đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: Ông Phùng Văn M, bà Phùng Thị Hƣơng S, bà Phùng Thị L, bà Phùng Thị N, bà Phùng Thị G và bà Phùng Thị V.

Về di sản thừa kế: Căn cứ vào sổ mục kê đất đai 299 của UBND xã T2, biên bản xác minh tại xã và từ những phân tích ở phần “đ i với yêu cầu hủy Quyết định s 1375 ngày 25/4/2012 của UBND huyện T; hủy GCNQSD đất s BĐ 159526 ngày 25/4/2012 và GCNQSD đất s BĐ 159525 ngày 25/4/2012” khẳng định thửa đất mà các đƣơng sự đang tranh chấp thừa kế là tài sản chung của cụ Phùng Văn M1 và cụ Đỗ Thị T. Các cụ đã sử dụng hợp pháp thửa đất đó từ trƣớc năm 1980 và chƣa chuyển nhƣợng cũng nhƣ tặng cho vợ chồng ông M hay bất kỳ ai toàn bộ diện tích đất nói trên.

Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ ngày 18/8/2018, xác định đƣợc tổng diện tích đất thực tế (gồm toàn bộ thửa đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M, bà D và thửa đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L, ông C vào năm 2012) là 840m2. Các đƣơng sự đều khẳng định việc đo đạc, thẩm định của Tòa án vào ngày 18/8/2018 là khách quan, hiện trạng sử dụng đất của ông M và bà D, bà L và ông C không có sự thay đổi so với trƣớc đây của các cụ, không có sự lấn chiếm hay tranh chấp mốc giới với các hộ giáp ranh. Phòng Tài nguyên và môi trƣờng huyện cũng xác định diện tích đất theo hiện trạng sử dụng mà T a án đo thẩm định là đúng, sở dĩ trƣớc đây diện tích thửa đất không đúng là do xác định diện tích theo ảnh chụp hàng không, chƣa đúng mốc giới và tính diện tích chƣa đúng. Vì vậy, có cơ sở khẳng định, tổng diện tích đất của cụ M1 và cụ T là 840m2, trong đó phía Đông Nam giáp đƣờng trục xã, phía Tây Nam giáp đất gia đình ông Khánh, phía Tây Bắc giáp đất gia đình ông San và phía Đông Bắc giáp đất gia đình ông Vân.

Các đƣơng sự đều thừa nhận năm 2003, cụ M1, cụ T đã cho vợ chồng ông M, bà D xây dựng ngôi nhà hai tầng trên phần đất 139m2 của các cụ (giáp đất ông Khánh), vợ chồng ông M đã ở ổn định và xây dựng các công trình khác nhƣ tƣờng bao, làm mái tôn, lát sân gạch…trên phần đất đó. Mặc dù cụ M1, cụ T không làm thủ tục tặng cho phần đất 139m2 cho vợ chồng ông M theo quy định của pháp luật nhƣng bà S, bà G, bà L đều nhất trí xác định cụ M1, cụ T đã cho vợ chồng ông M diện tích 139m2 nên diện tích đất đó là tài sản của vợ chồng ông M, bà D, không phải đất thừa kế. Do đó cần công nhận diện tích đất 139m2, trên đất có ngôi nhà hai tầng xây dựng năm 2003, tƣờng bao, sân lát gạch, mái tôn…(không xác định đƣợc giá) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông M, bà D, trong đó đất ở là 100m2, đất vƣờn là 17,4m2, đất ao đã đƣợc san lấp thành vƣờn là 21,6m2 theo quy định tại Điều 161 Bộ luật dân sự.

Ông M, bà D trình bày, năm 1993 hộ gia đình ông đã bị trừ diện tích đất 03 (đất ruộng) ở ngoài đồng vào diện tích đất vƣờn của cụ M1, cụ T. Lời trình bày này phù hợp với biên bản xác minh tại UBND xã T2 nên xác định đƣợc hộ gia đình ông M có diện tích đất vƣờn trong thửa đất của cụ M1, cụ T là 156m2. Các con của ông M, bà D là chị Phùng Thị D1, Phùng Thị Đ, Phùng Thị M1 đều trình bày mặc dù hộ gia đình chị bị trừ 156m2 đất 03 vào đất vƣờn nhƣng các chị đã đƣợc bố mẹ trả đủ tiêu chuẩn đất 03 b ng đất ruộng ngoài đồng (mỗi ngƣời 600m2), do đó phần đất vƣờn 156m2 thuộc quyền sử dụng riêng của ông M, bà D, các chị không đề nghị đƣợc chia. Do đó, cần công nhận diện tích 156m2 đất vƣờn trong tổng diện tích đất của cụ M1, cụ T thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông M, bà D, không phải đất thừa kế. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông M, bà D có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình theo quy định của pháp luật.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà L, ông C khẳng định vào năm 2005, cụ M1, cụ T đã bán cho vợ chồng ông bà một phần đất có chiều ngang mặt đƣờng là 5,5 mét và kéo dài hết đất với giá 30 triệu đồng (phần đất này giáp đất của gia đình ông Vân, diện tích theo hiện trạng là 276m2). Nội dung này phù hợp với lời trình bày của các nguyên đơn (bà S, bà G), phù hợp với lời khai của những ngƣời làm chứng (ông Thọ, bà Liễu); ông M, bà N, bà V không thừa nhận có việc mua bán mà cho r ng cụ M1, cụ T tặng cho vợ chồng bà L đất và vợ chồng bà L đã tự nguyện trả cho hai cụ số tiền khoảng 30 triệu đồng. Nhƣ vậy, dù là mua bán hay tặng cho thì các đƣơng sự đều xác định có việc chuyển quyền sử dụng hợp pháp 276m2 đất từ cụ M1, cụ T cho vợ chồng bà L, ông C . Bà L, ông C đã xây tƣờng bao, xây nhà ở, sử dụng ổn định đất từ đó đến nay. Vì thế, mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2012 cho vợ chồng bà L, ông C không hợp pháp và bị hủy nhƣng cần công nhận bà L, ông C có quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất 276m2 trong tổng diện tích đất của cụ M1, cụ T, không c n là đất thừa kế, theo quy định tại Điều 161 Bộ luật dân sự. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà L, ông C có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình theo quy định của pháp luật.

Nhƣ vậy, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất mà cụ M1, cụ T để lại là: 840m2 - (139m2 + 156m2) - 276m2 = 269m2, trong đó đất ở là 200m2 trị giá 400.000.000 đồng, đất ao đã đƣợc san lấp thành đất vƣờn là 69m2 trị giá 76.590.000 đồng. Phần đất này n m giữa phần đất đƣợc công nhận của vợ chồng ông M, bà D và phần đất đƣợc công nhận của vợ chồng bà L, ông C. Ngoài ra, cụ M1, cụ T còn có một ngôi nhà cấp bốn xây dựng năm 1983 đã cũ nát. Cả phần đất và ngôi nhà của cụ M1, cụ T hiện nay bà G đang quản lý, sử dụng. Các đƣơng sự đều nhất trí nếu phải chia thừa kế thì không đề nghị chia ngôi nhà cấp bốn này vì ngôi nhà đã cũ nát, không còn giá trị sử dụng, nếu ai đƣợc hƣởng phần đất có phần nhà cấp bốn đó thì đƣợc quyền phá dỡ để lấy mặt b ng sử dụng. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết phần di sản thừa kế là ngôi nhà cấp bốn này.

Các đƣơng sự đều thống nhất trƣớc khi chết, cụ M1 và cụ T không để lại nghĩa vụ về tài sản nào nên phần tài sản thừa kế của các cụ đƣợc chia cho các đồng thừa kế mà không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do ngƣời chết để lại.

Quá trình quản lý đất của cụ M1, cụ T, bà G đã mua cát về san lấp phần ao thành đất vƣờn hết 20 triệu đồng nhƣng bà G không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề này nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Trên phần đất thừa kế của cụ M1, cụ T có một phần ngôi nhà và tƣờng bao của vợ chồng ông M, bà D. Ông M, bà D không đề nghị Tòa án giải quyết phần ngôi nhà và tƣờng bao của vợ chồng ông bà n m trên đất thừa kế, nếu sau này ai đƣợc hƣởng phần đất đó thì ông bà và ngƣời đƣợc chia đất sẽ tự thỏa thuận nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Từ những phân tích, đánh giá trên, căn cứ quy định tại Điều 612 Bộ luật dân sự, xác định di sản thừa kế của cụ M1, cụ T để chia trong vụ án này là quyền sử dụng 269m2 tại thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, trị giá 476.590.000 đồng. Do đó, mỗi đồng thừa kế sẽ đƣợc hƣởng phần giá trị tài sản là 79.431.650 đồng (đã làm tròn).

Bà S và bà L tự nguyện cho bà G phần tài sản mà các bà đƣợc nhận, nên bà G đƣợc nhận phần giá trị di sản thừa kế là 238.294.900 đồng (đã làm tròn).

Bà N và bà V tự nguyện cho ông M phần tài sản mà các bà đƣợc nhận, nên ông M đƣợc nhận phần giá trị tài sản thừa kế là 238.294.900 đồng (đã làm tròn).

Căn cứ vào hoàn cảnh và nhu cầu sử dụng đất ở và sự tự nguyện của các bên đƣơng sự, di sản thừa kế là quyền sử dụng 269m2 đƣợc chia b ng đất nhƣ sau:

- Chia cho ông Phùng Văn M phần đất có diện tích 134,5m2 (trong đó: diện tích đất ở là 100m2 trị giá 200.000.000 đồng; diện tích đất ao đƣợc san lấp thành vƣờn là 34,5m2 trị giá 38.294.900 đồng), phần đất này giáp với phần đất đƣợc công nhận quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông (trên đất có một phần ngôi nhà và tƣờng bao của vợ chồng ông M và bà D, không xác định đƣợc giá).

- Chia cho bà Phùng Thị G thửa đất có diện tích 134,5m2 (trong đó: diện tích đất ở là 100m2 trị giá 200.000.000 đồng; diện tích đất ao đƣợc san lấp thành vƣờn là 34,5m2 trị giá 38.294.900 đồng), phần đất này giáp với phần đất đƣợc công nhận quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà L, ông C.

Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà S, bà G đã nộp tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản. Nay bà S, bà G tự nguyện chịu cả số tiền này, không đề nghị bị đơn và những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác phải trả lại nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 1375 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà S, bà G, bà L, ông C đƣợc Tòa án chấp nhận nên không phải chịu án phí sơ thẩm.

Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế, các đƣơng sự phải chịu án phí trên phần giá trị tài sản đƣợc hƣởng. Ông M sinh năm 1954 (đã trên 60 tuổi) và có đề nghị đƣợc miễn án phí dân sự sơ thẩm nên HĐXX miễn án phí cho ông M. Bà Phùng Thị Hƣơng S tự nguyện chuyển toàn bộ phần tạm ứng án phí bà đã nộp vào tiền án phí bà G phải chịu nên cần trừ cho bà G tổng số tiền tạm ứng án phí đã nộp vào tiền án phí là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 161, 611, 612, 613, 614, 623, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự; Điều 30 Luật Tố tụng hành chính; Điều 34, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Thị Hƣơng S, bà Phùng Thị G, bà Phùng Thị L và ông Phan Văn C, hủy Quyết định số 1375 ngày 25/4/2012 của UBND huyện T về việc thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu dân cƣ xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 159526 ngày 25/4/2012 cấp cho ông Phùng Văn M, bà Phan Thị D và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 159525 ngày 25/4/2012 cấp cho ông Phan Văn C, bà Phùng Thị L.

2. Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Phùng Văn M và bà Phan Thị D đối với diện tích 295m2 (trong đó có 100m2 đất ở, 173,4m2 đất vƣờn và 21,6m2 đất ao đã đƣợc san lấp thành vƣờn) tại thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, thửa đất có kích thƣớc nhƣ sau: cạnh Đông Nam giáp đƣờng trục xã (ký hiệu M1M17; M17M16) dài 10,2m; cạnh Tây Nam giáp đất gia đình ông Khánh (ký hiệu M1M2; M2M3) dài 31,9m; cạnh Tây Bắc giáp đất gia đình ông San (ký hiệu M3M4; M4M5)) dài 7,7m; cạnh Đông Bắc giáp phần đất thừa kế của cụ M1, cụ T (ký hiệu M5M16) dài 30,8m (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

3. Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của bà Phùng Thị L và ông Phan Văn C đối với diện tích 276m2 (trong đó có 208,6m2 đất vƣờn, 67,4m2 đất ao đã đƣợc san lấp thành đất vƣờn) tại thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, thửa đất có kích thƣớc nhƣ sau: cạnh Đông Nam giáp đƣờng trục xã (ký hiệu M13M14) dài 5,5m; cạnh Tây Nam giáp phần đất thừa kế của cụ M1, cụ T và đất gia đình ông San (ký hiệu M14M18; M18M7; M7M8; M8M9) dài 48,2m; cạnh Tây Bắc giáp đất gia đình ông San (ký hiệu M9M10) dài 4,3m; cạnh Đông Bắc giáp đất gia đình ông Vân (ký hiệu M10M11; M11M12; M12M13) dài 46m (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

4. Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Phùng Thị Hƣơng S và bà Phùng Thị G:

4.1. Xác định di sản thừa kế của cụ Phùng Văn M1 và cụ Đỗ Thị T là 269m2 đất tại thôn T1, xã T2, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng, trị giá 476.590.000 đồng (b n trăm bẩy m ơi sáu triệu, năm trăm chín m ơi nghìn).

4.2. Xác định những ngƣời đƣợc hƣởng di sản thừa kế của cụ M1 và cụ T gồm: Ông Phùng Văn M, bà Phùng Thị Hƣơng S, bà Phùng Thị L, bà Phùng Thị N, bà Phùng Thị G và bà Phùng Thị V.

4.3. Xác định giá trị di sản mỗi ngƣời hƣởng thừa kế đƣợc nhận là 79.431.650 đồng (bẩy m ơi chín triệu, b n trăm ba m ơi m t nghìn, sáu trăm năm m ơi đ ng).

- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phùng Thị N và bà Phùng Thị V cho ông Phùng Văn M phần di sản mà các bà đƣợc nhận. Ông Phùng Văn M đƣợc nhận phần giá trị di sản thừa kế là 238.294.900 đồng (hai trăm ba m ơi tám triệu, hai trăm chín m ơi b n nghìn, chín trăm đ ng).

- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phùng Thị Hƣơng S và bà Phùng Thị L cho bà Phùng Thị G phần di sản mà các bà đƣợc nhận. Bà Phùng Thị G đƣợc nhận phần giá trị di sản thừa kế là 238.294.900 đồng (hai trăm ba m ơi tám triệu, hai trăm chín m ơi b n nghìn, chín trăm đ ng).

4.4. Chia hiện vật:

- Chia cho ông Phùng Văn M thửa đất có diện tích 134,5m2 trị giá 238.294.900 đồng (hai trăm ba m ơi tám triệu, hai trăm chín m ơi b n nghìn, chín trăm đ ng), trong đó: diện tích đất ở là 100m2, diện tích đất ao đƣợc san lấp thành vƣờn là 34,5m2, có kích thƣớc cụ thể nhƣ sau: Cạnh Đông Nam giáp đƣờng trục xã (ký hiệu M15M16) dài 4,4m; cạnh Tây Nam giáp phần đất thuộc quyền sử dụng của ông M, bà D (ký hiệu M16M5) dài 30,8m; cạnh Tây Bắc giáp đất gia đình ông San (ký hiệu M5M6) dài 4,4m; cạnh Đông Bắc giáp đất nhà bà G (ký hiệu M6M15) dài 30,4m (trên đất có một phần nhà ở và tƣờng bao của vợ chồng ông M, bà D) (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

- Chia cho bà Phùng Thị G thửa đất có diện tích 134,5m2 trị giá 238.294.900 đồng (hai trăm ba m ơi tám triệu, hai trăm chín m ơi b n nghìn, chín trăm đ ng), trong đó: diện tích đất ở là 100m2, diện tích đất ao đƣợc san lấp thành vƣờn là 34,5m2, có kích thƣớc cụ thể nhƣ sau: Cạnh Đông Nam giáp đƣờng trục xã (ký hiệu M14M15) dài 4,6m; cạnh Tây Nam giáp phần đất của ông M (ký hiệu M15M6) dài 30,4m; cạnh Tây Bắc giáp đất gia đình ông San (ký hiệu M6M7) dài 4,5m; cạnh Đông Bắc giáp đất gia đình bà L (ký hiệu M7M18; M18M14) dài 29,9m (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

5. Án phí: Bà Phùng Thị G phải chịu 11.914.700 đồng tiền án phí sơ thẩm dân sự, đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà G, bà S đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số AB/2014/006797 ngày 22/6/2016, bà G còn phải nộp 9.414.700 đồng (chín triệu, b n trăm m i b n nghìn, bẩy trăm đ ng)

Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm dân sự cho ông Phùng Văn M.

6. Quyền kháng cáo: Đƣơng sự, ngƣời đại diện hợp pháp của đƣơng sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

B n án đ ợc thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng i đ ợc thi hành án dân sự, ng i ph i thi hành án dân sự có quyền tho thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ