vanban.org

Bản án 10/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V.

Buộc bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  phải có trách nhiệm thanh toán tiền vay cho Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V tính đến ngày 23/10/2017 với số tiền 64.693.920 đồng (trong đó: Nợ gốc: 56.909.475 đồng; Nợ lãi: 7.784.445 đồng) Bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng - THái Thị Huyền Ch ..."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/DS-ST
Ngày: 28/02/2018
Về việc: Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG-THÁP CHÀM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Anh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Bà Phạm Đình Thị Minh Nguyệt.

2/. Ông Nguyễn Huy Trân.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc- cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.

Ngày 28 tháng 02 năm 2018 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 241/2017/TLST- DS, ngày 07 tháng 11 năm 2017 về việc tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXX – DS, ngày 12 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2018/QĐHPT ngày 30/01/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Địa chỉ: Số 35 Hàng Vôi, quận H, thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền:

1. Ông Nguyễn Tấn V – Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V - Chi nhánh Ninh Thuận.

2. Ông Phạm Tấn Đăng Kh – Chức vụ: Chuyên viên phụ trách xử lý nợ - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V - Chi nhánh Ninh Thuận.

(Các văn bản ủy quyền số: 8695, ngày 28/10/2016; Số 01, ngày 28/10/2016 và số 1763, ngày 01/9/2017). (Có mặt).

Địa chỉ: Số 138 đường 21/8, phường Ph, TP. P, tỉnh Ninh Thuận.

* Bị đơn. Bà Thái Thị Huyền Ch, sinh năm: 1987 (vắng mặt)

* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ÔngTrần Trọng Â, sinh năm: 1983 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số 48/11B đường Tr, phường Ph, thành phố Ph, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2017 và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V - ông Phạm Tấn Đăng Kh trình bày:

Ngày 09/10/2015 bà Thái Thị Huyền Ch và ôngTrần Trọng  có lập hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V - chi nhánh Ninh Thuận với số tiền 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng chẵn) theo Hợp đồng tín dụng số: Z85601/2015/HĐTD, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày 09/10/2015, kỳ hạn trả nợ hàng tháng, số tiền trả nợ hàng tháng 1.398.000 đồng, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 10,5%/năm, mục đích vay là tiêu dùng; Hiện số tiền gốc đã trả 8.090.525 đồng, số tiền lãi đã trả 5.889.475 đồng; Sau ngày 18/8/2016 thì vợ chồng bà Ch, ông  không trả nữa, dù Ngân hàng nhiều lần đòi nợ. Vì vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V khởi kiện yêu cầu bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  phải hoàn trả tổng số nợ tính đến ngày 23/10/2017 là 64.693.920 đồng (trong đó: Nợ gốc: 56.909.475 đồng; Nợ lãi: 7.784.445 đồng).

Tại phiên tòa Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V yêu cầu bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  phải có trách nhiệm thanh toán tiền vay cho Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V số tiền vay tính đến ngày 23/10/2017 là 64.693.920 đồng (trong đó: Nợ gốc: 56.909.475 đồng; Nợ lãi: 7.784.445 đồng).

Yêu cầu bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  phải tiếp tục thanh toán phần lãi phát sinh theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng kể từ ngày 24/10/2017 cho đến khi thi hành án xong.

* Bị đơn bà Thái Thị Huyền Ch và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Trọng  dù đã được tống đạt giấy báo đến Tòa án TP. Phan Rang – Tháp Chàm để Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng bà Ch, ông  đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ngày 09/11/2017 Toà án nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm đã niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án số 241/TB-TLVA, ngày 07/11/2017 cho bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng Â. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt, bà Ch, ông  không trả lời bằng văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam và không nộp các tài liệu, chứng cứ kèm theo.

- Ngày 29/11/2017 Toà án đã niêm yết thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải số: 63/TB-TA ngày 29/11/2017 và ngày 25/12/2017 niêm yết thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải số: 77/TB - TA ngày 21/12/2017 cho bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng Â. Bà Ch, ông  không đến tham gia phiên hoà giải theo thông báo.

- Ngày 12/01/2018 Toà án đã niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/QĐST- DS, ngày 12/01/2018 và 01 biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng Â. Bà Ch, ông  vắng mặt tại phiên toà không có lý do.

- Ngày 02/02/2018 Toà án tống đạt Quyết định hoãn phiên toà số: 09/2018/QĐ-HPT ngày 02/02/2018. Bà Ch, ông  vắng mặt tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật]:Tại phiên tòa, Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V yêu cầu bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  phải hoàn trả tổng số nợ tính đến ngày 23/10/2017 là 64.693.920 đồng (trong đó: Nợ gốc: 56.909.475 đồng; Nợ lãi: 7.784.445 đồng). Yêu cầu bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  phải tiếp tục thanh toán phần lãi phát sinh theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng kể từ ngày 23/10/2017 cho đến khi thi hành án xong. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án dân sự là: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

[2 ]Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Thái Thị Huyền Ch và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Trọng  đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, nhận thấy: Ngày 09/10/2015 bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  có lập hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V - chi nhánh N với số tiền 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng chẵn) theo Hợp đồng tín dụng số: Z85601/2015/HĐTD, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày 09/10/2015, kỳ hạn trả nợ hàng tháng, số tiền trả nợ 1.398.000 đồng/ tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 10,5%/năm, mục đích vay là tiêu dùng; Xét thấy đây là sự thỏa thuận và tự nguyện giữa hai bên khi ký kết hợp đồng tín dụng.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dânTP. Phan Rang – Tháp Chàm đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà Ch, ông  vẫn không có ý kiến gì cũng như không đến Tòa án làm việc. Điều đó thể hiện bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  từ chối quyền và nghĩa vụ của mình và chứng tỏ rằng việc Ngân hàng khởi kiện đòi nợ vay theo hợp đồng vay tài sản là có thật; Hơn nữa xét thấy toàn bộ hồ sơ Ngân hàng cung cấp đều có chữ ký, chữ viết của bà Ch, ông Â. Đồng thời cũng thể hiện từ khi vay vốn đến nay bà Ch, ông  chỉ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư & phát triển V - chi nhánh N số tiền gốc 8.090.525 đồng và số tiền lãi 5.889.475 đồng. Vì vậy xác định bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  còn nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V tính đến ngày 23/10/2017 là 64.693.920 đồng (trong đó: Nợ gốc: 56.909.475 đồng; Nợ lãi: 7.784.445 đồng). Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư & phát triển V.

Về án phí:

Bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư & phát triển V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 điều 26, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V.

Buộc bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  phải có trách nhiệm thanh toán tiền vay cho Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V tính đến ngày 23/10/2017 với số tiền 64.693.920 đồng (trong đó: Nợ gốc: 56.909.475 đồng; Nợ lãi: 7.784.445 đồng)

Bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ sau ngày 24/10/2017 đối với khoản nợ gốc cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng.

Về án phí:

Bà Thái Thị Huyền Ch và ông Trần Trọng  phải chịu 3.234.696 đồng (Ba triệu hai trăm ba mươi bốn ngàn sáu trăm chín mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư & Phát triển V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển V 1.617.000 đồng tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu số 0014404, ngày 03/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hợp lệ bản án.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 06, 07 và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ