vanban.org

Bản án 10/2018/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 22/03/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe và tài sản"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/DS-ST
Ngày 22 tháng 3 năm 2018
“ Tranh chấp bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Gẫm

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Thạch Thị Mỹ Kim

2/ Ông Trần Quốc Hào

- Thư ký - phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Minh, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2018 Tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 327/2017/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2017. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/ QĐXXST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh D, sinh năm 1979 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp LĐ, xã LĐ, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1987 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp LĐ, xã LĐ, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết tại Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thanh D trình bày: Ngày 04/01/2017 bà có bơm cát trên phần đất của bà và nước có tràn ra lối đi vào nhà của bà Bến, nên giữa bà B với bà D có lời qua tiếng lại. Sau đó bà D điện thoại kêu anh bảy P là anh chồng của bà D cũng là anh ruột của bà B đến để can ngăn. Khi anh bảy P can ngăn xong ra về, thì bà B cầm chai chạy qua nhà bà D đánh vào đầu bà D làm cho bà D phải nhập viện điều trị ngày 04/01/2017 đến ngày 09/01/2017 thì ra viện (thời gian nhập viện là 06 ngày), bác sĩ chuẩn đoán bà D bị chấn thương đầu và chấn động não. Khi xuất viện về thì bà D vẫn không ngồi dậy được và người nhà đã đưa bà lên bệnh viện Khoa ngoại thần kinh Quốc tế ở thành phố Hồ Chí Minh để điều trị.

Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà B bồi thường thiệt hại cho bà tổng số tiền là 38.333.000đ. Trong đó tiền công lao động 250.000đ/ngày x 99 ngày từ ngày 04/01/2017 đến 12/4/2017 là 24.750.000đ, chi phí khám chữa bệnh là 8.366.000đ, thiệt hại về vật liệu làm nhang bị hư hỏng không sử dụng được là 2.760.000đ, thiệt hại về thỏ giống bị chết là 13 con với số tiền là 2.457.000đ.

Bị đơn bà Trần Thị B trình bày tại phiên tòa: Bà D kêu người bơm cát tràn qua sân và lối đi vào nhà của bà; bà có nói với bà D bơm cát chừa đường đi ra vào nhà cho bà nhưng bà D vẫn bơm cát cho tràn qua đường đi gây lầy lội. Do tức giận nên bà ở trong nhà chửi thì bà D ghi âm và điện thoại cho anh ruột của bà là ông Trần Văn P đến đánh bà B, nên khi anh P về thì bà B chạy qua nhà bà D dùng tay đánh vào phía sau đầu bà D hai, ba cái. Nay, bà đồng ý bồi thường số tiền thuốc, chi phí hợp lý cho việc khám, điều trị, tiền viện phí cho bà D là 5.166.000đ và tiền mất ngày công lao động là 06 ngày nằm viện theo mức lao động trung bình ở địa phương là 150.000đ x 6 ngày là 900.000đ, tổng cộng là 6.066.000đ. Còn tất cả những khoản khác bà B không đồng ý bồi thường.

Tại phiên tòa hôm nay, vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện tốt các qui định tại các Điều 48, 68, 70, 71, 72, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 585, Điều 589 và Điều 590 chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh D về những chi phí hợp lý cho việc điều trị như tiền thuốc, chi phí xét nghiệm, khám điều trị bệnh, tiền viện phí, tiền tàu xe khám điều trị tại thành phố Hồ Chí Minh; một phần tiền công lao động đối với những ngày nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh và 03 ngày đi khám và điều trị tại bệnh viện Khoa thần kinh Quốc tế thành phố Hồ Chí Minh theo mức trung lao động trung bình ở địa phương 150.000đ/ngày. Tổng số tiền đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận là 9.036.000đ các khoản còn lại đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kể cả yêu cầu bồi thường thiệt hại về thỏ và vật liệu làm nhang. Ngoài ra, vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật của vụ án: Bà Nguyễn Thanh D yêu cầu bà Trần Thị B bồi thường tiền thuốc, chi phí khám điều trị bệnh, ngày công lao động, tài sản bị thiệt hại. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại khoản 6, Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bà Trần Thị B là bị đơn có nơi cư trú ấp LĐ, xã LĐ, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh theo điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Tại phiên tòa hôm nay các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu và không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết vụ án.

Xét thấy, vào ngày 04/01/2017, bà D có bơm cát sang lắp mặt bằng nhà bà D và có tràn bùn ra lối đi vào nhà bà Bến nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại và xảy ra việc xô xát đánh nhau, trong khi giữa bà D và bà B không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ xích mích nhỏ việc bơm cát tràn bùn qua lối đi, mà bà B đến nhà bà D dùng tay đánh vào đầu bà D làm bà D bị tổn thương phải nhập viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa Trà Vinh từ ngày 04/01/2017 đến ngày 09/01/2017 là 06 ngày. Xét thấy, hành vi này của bà B là có lỗi, nên bà B phải có nghĩa vụ bồi thường những chi phí hợp lý cho việc điều trị bệnh của bà D theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Đối với yêu cầu của bà D về yêu cầu tiền thuốc và chi phí khám chữa bệnh là 8.366.000đ, nhưng bà D chỉ cung cấp được chứng cứ chứng minh hợp lệ tại các bút lục 30 - 45. Tại phiên hòa giải ngày 10/01/2018 cũng như tại phiên tòa hôm nay bà B đồng ý bồi thường các chi phí hợp lý cho việc khám, điều trị, viện phí, các chi phí chụp X quang, tiền thuốc tại bệnh viện Đa khoa Trà Vinh và tại Bệnh viện chuyên khoa ngoại thần kinh quốc tế thành phố Hồ Chí Minh cho bà D là 5.166.000đ. Xét thấy, sự tự nguyện này của bà B là không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Yêu cầu tiền thuốc và chi phí khám chữa bệnh còn lại là 3.200.000đ của bà D không được Hội đồng xét xử, vì bà Diệu không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

Đối với tiền ngày công lao động: Bà D yêu cầu bà B bồi thường tiền mất ngày công lao động cho bà là 99 ngày x 250.000đ/ngày = 24.750.000đ là có căn cứ chấp nhận một phần tiền mất ngày công lao động theo mức lao động trung bình ở địa phương là 150.000đ/ngày (vì nghề nghiệp chủ yếu của bà D là nội trợ và làm nhang) cụ thể như sau:

- 06 ngày nằm viện tại bệnh viện đa khoa Trà Vinh cho người bệnh và 01 người nuôi bệnh là 1.800.000đ. Trong đó: Người bệnh 06 ngày x 150.000đ = 900.000đ; người nuôi bệnh là 06 ngày x 150.000đ = 900.000đ.

- Mặc dù, sau khi xuất viện tại Bệnh viện đa khoa Trà Vinh thì bà D không được Bác sĩ chỉ định tái khám nhưng vì sức khỏe của bà D là bị bà B tác động làm chấn thương, nên bà D có quyền đi đến chuyên khoa cao hơn để kiểm tra, điều trị nhằm phục hồi sức khỏe là cần thiết. Do đó, Hội đồng xét xử buộc bà B phải bồi thường cho bà D tiền mất ngày công lao động là 03 ngày x 150.000đ = 450.000đ. Tiền xe đi khám tại Bệnh viện chuyên khoa ngoại thần kinh Quốc tế thành phố Hồ Chí Minh là 03 lượt đi về theo giá cước công cộng Trà Vinh – thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại là 240.000đ x 3 lượt đi, về = 720.000đ;

- 06 ngày công lao động nghỉ dưỡng bệnh hợp lý là 900.000đ (150.000đ x 6 ngày).

Như vậy, tổng số tiền về ngày công lao động và tiền xe theo yêu cầu của bà D được Hội đồng xét xử chấp nhận là 3.870.000đ. Yêu cầu về ngày công lao động còn lại không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Riêng đối với yêu cầu của bà D về yêu cầu bà B bồi thường thiệt hại về tài sản là vật liệu làm nhang là 2.760.000đ, thiệt hại về thỏ giống là 13 con với số tiền là 2.457.000đ. Ngày 10/01/2018 Tòa án thành phố Trà Vinh có tống đạt cho bà D quyết định yêu cầu bà D cung cấp chứng cứ chứng minh bà D bị thiệt hại về 13 con thỏ và vật liệu làm nhang nhưng bà D không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị B phải chịu theo quy định của pháp luật. Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật liệu làm nhang và thỏ giống không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH

Căn cứ khoản 6, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147 và khoản 1, Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 584; Điều 585, Điều 589, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thanh D.

Buộc bà Trần Thị B phải có nghĩa vụ bồi thường tiền ngày công lao động trong những ngày nằm viện, đi khám bệnh, những ngày nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe và tiền xe khám điều trị bệnh cho bà Nguyễn Thanh D là 3.870.000đ (Ba triệu tám trăm bảy mươi ngàn đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị B bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thanh D các chi phí hợp lý cho việc khám, điều trị, viện phí, các chi phí chụp X quang, tiền thuốc là 5.166.000đ (Năm triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).

Không chấp nhận các yêu cầu sau đây của bà Nguyễn Thanh D gồm: yêu cầu về vật liệu làm nhang và thỏ giống là 5.217.000đ; các yêu cầu về chi phí khám chữa bệnh và yêu cầu về ngày công lao động còn lại.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Trần Thị B phải có nghĩa vụ nộp 451.000đ (Bốn trăm năm mươi mốt ngàn đồng) án phí dân sự sơ.

Buộc bà Nguyễn Thanh D phải có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (đối với yêu cầu bồi thường tiền thỏ giống và vật liệu làm nhang không được Hội đồng xét xử chấp nhận), nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0012538 ngày 12/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Bà D không phải nộp thêm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ