- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA AN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2017/ HSST Ngày: 22/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Túc
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thủy
Bà Kiều Thị Nguyệt
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn Mừng – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2017/HSST ngày 01/9/2017 đối với bị cáo:
1. Đinh Văn Thế, sinh ngày 21/5/1986; trú tại: Xóm N, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; con ông: Đinh Văn C sinh năm 1951, con bà Đinh Thị Y sinh năm 1954; có vợ là: Xa Thị H sinh năm 1984; có 01 con sinh năm 2007; gia đình có 5 anh em, bị cáo là con út trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Nguyễn Văn Q sinh năm 1984, trú tại: Xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình, có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền lợi của người bị hại:
1.Ông Bùi Quang Ng
2. Bà Đinh Thị Q
Cùng là Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Đinh Công Th sinh năm 1975, trú tại xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình, có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo bị viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 17/4/2017 tại gia đình anh Đinh Công Th ở xóm Sơn P, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình xảy ra việc Đinh Văn T dùng chiếc ghế nhựa đánh vào vùng mặt, gây thương tích làm gẫy xương hàm ở cằm và góc hàm phải của anh Nguyễn Văn Q người ở xóm S, xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Nguyên nhân được xác định do trước đó Nguyễn Văn Q có nợ tiền của anh Đinh Công Th, khi gặp Q, Đinh Công Th gọi vào nhà nói chuyện, tại bàn uống nước Th hỏi Q chú nợ tiền anh lâu rồi trả đi, Q nói bây giờ em không có cho em nợ đến vụ đót cuối năm, Th bảo không được cho nợ đến vụ ngô thôi, Q nói Ngô thì em chịu rồi, em không trả đâu. Khi Th đem giấy bút ra đưa cho Q yêu cầu viết giấy khất nợ Q không đồng ý, hai bên to tiếng với nhau, thấy thái độ của Q như vậy Đinh Văn T là em vợ của Th đi từ ngoài vào cầm chiếc ghế nhựa gần đó vung lên đập trúng vào hàm bên phải làm cho Q khụy gối xuống đất, khi Q ngồi dậy có nói với T là mày nhớ mặt tao nhé,T tiếp tục dùng tay phải đánh vào mặt Q hai cái nữa, lúc đó Đinh Công Th vào can ngăn ôm và kéo tay Q ngồi xuống ghế không cho T đánh Q nữa, T đi ra phía trước cửa nhà ngồi trên yên xe mô tô dựng cách đó khoảng 03 mét, khi thấy Nguyễn Văn T là anh em của Q đến, T nghĩ là Nguyễn Văn T đến để đánh mình nên đi vào bàn uống nước cầm chiếc điếu cày để phòng vệ, Nguyễn Văn T có nói là có gì bảo nhau sao đánh nhau thế này, sự việc sau đó được Công an xã C, huyện Đ đến giải quyết; Nguyễn Văn Q bị chảy máu nhiều ở cằm đã được gia đình đưa đến bệnh viện điều trị.
Tại bản kết luận giám định thương tích số 86/PY-GĐTT ngày 30/5/2017 của trung tâm giám định pháp y tỉnh Hòa Bình kết luận:
Nguyễn Văn Q bị chấn thương vùng hàm mặt do vật tày tác động gây gẫy xương hàm vùng cằm, góc hàm phải; đã phẫu thuật điều trị, hiện tại nạn nhân há miệng còn hạn chế. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12%.
Tại phiên tòa, người bị hại khai báo ngoài việc bị Đinh Văn T dùng điếu cày đánh còn có Đinh Công Th dùng tay đánh vào mặt, nên đề nghị xem xét trách nhiệm của Đinh Công Th trong vụ án.
Quá trình điều tra xác định được thương tích của Nguyễn Văn Q là do Đinh Văn T dùng chiếc ghế nhựa cứng màu vàng 04 chân trụ cao 70cm tại khu vực bàn uống nước của gia đình Đinh Công Th để đánh Q. Khi đi đến cách khoảng gần 01 mét về hướng tay phải của Q, bị cáo T cầm phần tựa lưng chiếc ghế vung nên đập chếch, chéo từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, hai cạnh lồi mặt trước của chân ghế trúng vào vùng cằm và góc hàm làm cho Q ngã khụy gối xuống đất, lúc đứng dậy được Q có nói với T là mày nhớ mặt tao nhé nên T có dùng tay phải đánh hai cái vào vùng mặt của Q.
Hung khí mà T dùng được xác định là chiếc ghế nhựa có lưng tựa màu vàng, điểm va chạm phù hợp với thương tích để lại làm gẫy xương hàm phía trước và góc hàm phải của Q. Bản thân T thừa nhận sau khi dùng ghế đánh Q ngã xuống đất, vì Q còn chửi T nên T đã dùng tay phải đánh hai cái vào mặt Q nhưng không gây thương tích, Đinh Công Th khi đó có vào ôm và cầm tay Q kéo ngồi xuống ghế để ngăn không cho T tiếp tục đánh Q nữa. Không có căn cứ xác định Th dùng tay đánh vào mặt như Q khai báo, việc không xem xét trách nhiệm hình sự của Đinh Công Th trong vụ án là có căn cứ.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 30/8/ 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hòa Bình đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hòa Bình để xét xử bị cáo Đinh Văn T có lý lịch nêu trên về tội Cố ý gây thương tích, theo Khoản 2 Điều 104 BLHS.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa đúng với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát huyện Đ, tỉnh Hòa Bình đã công bố, phù hợp với tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích; Áp dụng Khoản 2 Điều 104 ; Điểm b,p Khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự ; Xử phạt Đinh Văn T từ 30 đến 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách theo quy định ; Về xử lý vật chứng và trách nhiệm bồi thường,án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo đúng các quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, đương sự tại phiên tòa.
XÉT THẤY :
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Xuất phát từ việc anh rể bị cáo là Đinh Công Th đòi nợ Nguyễn Văn Q do hai bên không thỏa thuận được với nhau về việc trả nợ, lời qua tiếng lại to tiếng với nhau, Nguyễn Văn Q cầm chén đập xuống mặt bàn uống nước, thấy hành động của Q như vậy T đi từ ngoài vào cầm chiếc ghế tựa bằng nhựa ở gần bàn uống nước nơi Q và Th đang ngồi đánh 01 cái trúng vào mặt Q sau đó dùng tay phải tát hai cái vào mặt, thương tích của Nguyễn Văn Q được xác định do chính hành vi của Đinh Văn T gây ra nên T phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình.
Việc Nguyễn Văn Q cho rằng ngoài T đã dùng chiếc điếu cày đánh vào cằm, còn Đinh Công Thy dùng tay đánh vào vùng mặt mình là không đủ căn cứ, bởi căn cứ kết quả thực nghiệm điều tra, dấu vết và thương tích để lại trên cơ thể người bị hại, lời khai của Đinh Công Th thấy là phù hợp với tài liệu thu thập và lời khai nhận của bị cáo, thương tích được xác định do bị cáo T dùng ghế nhựa đánh vào vùng cằm của Q, khi thấy T đánh Q thì Th vào can ngăn, kéo tay Q ngồi xuống ghế để không cho T tiếp tục đánh Q, việc liền sau đó T dùng tay không tát vào mặt của Q thì không xác định được thương tích nên hậu quả làm gẫy xương hàm và góc hàm phải xác định hung khí là do T dùng đánh Q là chiếc ghế nhựa mà cơ quan Điều tra thu giữ; không đủ căn cứ xác định Th có tham gia đánh Q, do vậy không đề cập đến trách nhiệm hình sự của Th trong vụ án.
Đại diện cho người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại Nguyễn Văn Q tại phiên tòa đồng tình với nội dung cáo trạng và những phân tích đánh giá về tính chất mức độ của hành vi mà bị cáo thực hiện của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; các chứng cứ tài liệu được thu thập khách quan, phù hợp với pháp luật, hành vi của Đinh Văn T rõ ràng là trái pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại; nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cùng với việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì cũng cần phải cân nhắc để áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo thực hiện và buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thỏa đáng những về thương tích và tổn hại về sức khỏe của người bị hại theo đúng quy định tại điều 590 Bộ Luật dân sự.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của Đinh Văn T là nguy hiểm cho xã hội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, hành vi đó không những trực tiếp gây tổn hại cho sức khỏe của người bị hại mà còn gây tình trạng mất trật tự, trị an trên địa bàn; lẽ ra cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn thì mới phải. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng bị cáo Đinh Văn T có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; tự giác nộp số tiền 15.000.000đ tại cơ quan tiến hành tố tụng để bồi thường khắc phục hậu quả; cần căn cứ quy định tại Điểm b, p Khoản 1 Điều 46 Bộ Luật hình sự là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; cần vận dụng quy định có lợi cho bị cáo khi áp dụng pháp luật theo tinh thần Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 Nghị quyết của Quốc Hội; quy định tại Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là hợp lý.
Thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà căn cứ quy định Điều 60 Bộ Luật hình sự, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục là đủ.
Về trách nhiệm dân sự: Với tỷ lệ tổn thương trên cơ thể làm tổn hại 12% sức khỏe của người bị hại là do hành vi trái pháp luật của bị cáo gây nên, cần buộc bị cáo phải bồi thường thỏa đáng; cần chấp nhận chi phí hợp lý theo bảng kê và các chứng từ và chi phí mà người bị hại đã lập ngày 31/7/2017 là chi phí cho việc cứu chữa, tiền ăn, chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe (cần loại bỏ một số chứng từ không hợp lý đó là hóa đơn thanh toán tiền ăn ngày 21/4/2017, 02 giấy biên nhận thuê xe ngày 18/4/2017 và ngày 14/4/2017); bồi thường thu nhập thực tế bị mất của người bị hại trong 48 ngày x 200.000đ/ngày (18 ngày nằm viện và 30 ngày sau khi ra viện) tiền thu nhập bị mất của 01 người chăm sóc người bị hại trong thờì gian nằm viện 18 ngày x 200.000đ/ngày/người; tiền chi phí phục hồi vết thương và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị hại.
Về vật chứng vụ án: Những vật chứng mà cơ quan Điều tra thu giữ có liên quan đến vụ án được xác định là những vật dụng của gia đình anh Đinh Công Th nay đã hư hỏng không còn giá trị sử dụng, tại phiên tòa anh Th không có yêu cầu trả lại thấy cần tịch thu xuất hủy.
Đối với số tiền 15.000.000đ bị cáo nộp đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Hòa Bình để bồi thường thương tích, cần khấu trừ cho bị cáo khi bồi thường cho người bị hại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.
1. Áp dụng Khoản 2 điều 104; Điểm b, p Khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ Luật hình sự:
Xử phạt: Đinh Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm; kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đinh Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ Luật hình sự; Điều 590 Bộ Luật dân sư: Buộc bị cáo Đinh Văn T phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại Nguyễn Văn Q số tiền là:
Tiền chi phí đi viện, viện phí, tiền thuốc điều trị và các chi phí khác của người bị thiệt hại trong những ngày nằm viện là: 22.478.000đ.
Tiền thu nhập thực tế bị mất của người bị hại 48 ngày x 200.000đ/ngày = 9.600.000đ
Tiền thu nhập thực tế bị mất của 1 người phục vụ 18 ngày x 200.000đ/ngày = 3.600.000đ.
Tiền chi phí phục hồi chức năng + lắp răng giả là: 10.000.000đ
Tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị hại 15.000.000đ
Tổng cộng là 60.678.000đ; được khấu trừ 15.000.000đ (Trong đó có 5.000.000đ theo biên bản giao nhận tiền lập ngày 01/9/2017 giữa Viện kiểm sát huyện Đ, tỉnh Hòa Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Hòa Bình và 10.000.000đ bị cáo nộp theo biên lai thu tiền ngày 18/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Hòa Bình). Số tiền Đinh Văn T còn phải bồi thường là: 45.678.000đ (bốn mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng).
3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 41 Bộ Luật hình sự; điều 76 Bộ Luật tố tụng hình sự:
Tịch thu để tiêu hủy 01 chiếc ghế nhựa màu vàng, 01 chiếc điếu cày bằng đoạn cây Luồng, 04 mảnh vỡ của chiếc chén uống nước. Vật chứng có theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 5/9/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Hòa Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
4. Về án phí: Bị cáo Đinh Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự và 2.283.900đ án phí dân sự, cộng là: 2.483.900đ
Kể từ ngày người bị hại có yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải chịu khoản tiền lãi bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo và các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND t. Hòa Bình - Sở Tư pháp t. Hòa Bình - VKSND huyện Đ. - CA huyện Đ. - THADS huyện Đ. - Bị cáo, các đương sự - Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Túc |