- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về tình cảm: Anh Trần Đức V được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự xử; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2017/HNGĐ- ST Ngày 12/9/2017 “ V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Mão.
Các Hội thẩm Nhân dân: + Ông Nguyễn Đức Thành.
+ Bà Phan Thị Huệ.
Thƣ ký phiên toà: Ông Trần Ánh Phương, cán bộ Toà án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở TAND huyện H, tỉnh Quảng Trị tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:50/2017/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2017 về việc “Ly hôn”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2017/QĐXX-ST ngày 04 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2017/QĐST –HNGĐ ngày 22/8/2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Đức V; địa chỉ: thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L; địa chỉ: thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn anh Trần Đức Vũ trình bày:
Về tình cảm: Anh Trần Đức V và chị Nguyễn Thị L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị vào năm 2013. Trong quá trình chung sống với nhau một thời gian ngắn thì vợ chồng nảy sinh ra mâu thuẩn do anh đau ốm; năm 2014 vợ anh đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay không có quan hệ qua lại gì với nhau. Vợ chồng chung sống với nhau nhưng không có con chung. Hiện nay cuộc sống chung của vợ chồng không còn tình cảm và không chung sống với nhau nữa nên anh Trần Đức V yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
Về con chung, về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị L trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cấp, tống đạt, thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo đúng trình tự thủ tục tố tụng nhưng chị Nguyễn Thị L vẫn không có ý kiến gì.
Tại phiên Tòa hôm nay, anh Trần Đức V vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Lan.
Tại phiên Tòa, đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 28, 35, 97,179,195,196, 203, 208, 220 của BLTTDS. Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự: Nguyên đơn anh Trần Đức V đã thực hiện đầy đủ thủ tục được quy định tại Điều 70,71, 227, 234 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chị Nguyễn Thị L chưa thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị L và đề nghị áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Trần Đức V được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Sau khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn về việc giải quyết tranh chấp về “Ly hôn”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu giải quyết của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cấp, tống đạt, thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phien tòa theo đúng trình tự thủ tục tố tụng nhưng chị Nguyễn Thị L vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Vì vậy áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng xử vắng mặt chị Nguyễn Thị L.
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2013 anh Trần Đức V và chị Nguyễn Thị L có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng không có con chung; từ năm 2014 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân không có quan hệ qua lại với nhau nên tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn với nhau được.
Tại biên bản xác minh ngày 30/7/2017 thì về phía Hội liên hiệp phụ nữ xã H xác nhận: Anh Trần Đức V và chị Nguyễn Thị L có đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 2013. Trong quá trình chung sống với nhau do bất đồng quan điểm không và tính tình không hợp nhau. Hai vợ chồng chung sống với nhau nhưng chưa có con chung và đã sống ly thân không quan hệ gì với nhau.
Vì vậy, mục đích của hôn nhân không đạt, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn của anh Trần Đức V là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về con chung, về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí DSST: Áp dụng Điều 147 BLTTDS và Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc anh Trần Đức V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 35, khoản 2 Điều 227 và Điều 147, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự xử;
+ Về tình cảm: Anh Trần Đức V được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
2. Về án phí: Buộc anh Trần Đức V phải chịu 300.000 đồng án phí DSST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0006204 ngày 27/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Anh Trần Đức V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Anh Trần Đức V có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện H; - Các đương sự; - Chi cục THA dân sự H; - UBND xã H; - Lưu hồ vụ án. cấp, hiện nay hai cháu Phan Văn Trọng Khang và Phan Văn Anh Quân đang ở với anh Phan Văn Thái tại xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Anh Phan Văn Thái làm nghề đánh bắt cá mỗi tháng thu nhập từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊNTOÀ Phan Thị Mão Tại biên bản xác minh ngày 26/4/2017 Trưởng thôn Tây Tân An, xã Hải An cung |