vanban.org

Bản án 09 — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị H (Ngô Thị H1) đ i với ông Nguyễn Văn K về tranh chấp l i đi, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền l i đi”.

1 X c định phần diện tích được giới hạn bởi c c điểm 1, 2, 3, 4, 1 (trên trích đo hiện trạng) có diện tích 33,75m2 là l i đi vào thửa đất 2783, tờ bản đồ s 23 (02) của bà Ngô Thị H và ông Tạ Văn T2. Vị trí l i đi thuộc TDP T, phường Đ, TP ., tỉnh Thái Nguyên. (hành lang đường giao thông do UBND thàn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "DSPT Ngô Thị H - Nguyễn Văn K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị H (Ngô Thị H1) đ i với ông Nguyễn Văn K về tranh chấp l i đi, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền l i đi”.
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản n s : 09/2023/DS - PT
Ngày: 23/03/2023
V/v: Tranh chấp lối đi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Minh Lý

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang - Chức vụ: Kiểm s t viên.

Ngày 22 và ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ n dân sự thụ lý s 85/2022/TLPT-DS ngày 23 tháng 11 năm 2022 về việc "Tranh chấp l i đi".

Do bản án dân sự sơ thẩm s 14/2022/DS-ST ngày 27/9/2022 của Tòa n nhân dân thành ph Phổ Yên, tỉnh Th i Nguyên bị kh ng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s 103/2022/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2022 giữa c c đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị H (tức Ngô Thị H1), sinh năm 1975 . Địa chỉ: TDP A, phường Đ, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên.

( Có mặt tại phiên tòa)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965 Địa chỉ: TDP T, phường Đ, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên.

( Có mặt tại phiên tòa)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 3.1. Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh T; Đại diện theo ph p luật: Ông Nguyễn Thanh T, chức vụ: Gi m đ c Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Bình C, chức vụ: Phó gi m đ c Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T (theo Quyết định ủy quyền s 70/QĐ - STNMT, ngày 11/7/2022 của Gi m đ c Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T)

(Ông Phạm Bình C có đơn xin xét xử vắng mặt).

3.2.UBND thành ph P, tỉnh Th i Nguyên; Đại diện theo ph p luật: Ông Bùi Văn L, chức vụ: Chủ tịch Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Tuấn L1, chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên & Môi trường thành ph P (theo giấy ủy quyền s 03/GUQ, ngày 10/8/2022 của Chủ tịch UBND thành ph P, tỉnh Th i Nguyên).

(Vắng mặt tại phiên tòa).

3.3.UBND phường Đ, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên; Đại diện theo ph p luật: Ông Lý Thái V - Chức vụ: Chủ tịch UBND phường Đ, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên

(Có mặt tại phiên toà).

3.4. Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1965; ( Vợ ông K) Địa chỉ: TDP T, phường Đ, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

3.5. Ông Tạ Văn T2, sinh năm 1975; ( Chồng bà H) Địa chỉ: TDP A, phường Đ, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên.

( Có mặt tại phiên tòa).

3.6. Anh Ngô Tuấn T3, sinh năm 1983; 3.7. Chị Đỗ Thị Huyền T4, sinh năm 1989 Cùng địa chỉ: TDP A, phường Đ, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên;

( Anh T3, chị T4 có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.8. Anh Nguyễn Quang T5, sinh năm 1984; ( Con trai ông K) Địa chỉ: TDP T, phường Đ, TP P, tỉnh Th i Nguyên.

( Có mặt tại phiên tòa).

3.9. Chị Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1990; ( Vợ anh T5) Cùng địa chỉ: TDP T, phường Đ, TP P, tỉnh Th i Nguyên.

( Vắng mặt tại phiên tòa).

3.10.Anh Ngô Quang H3, sinh năm 1989 3.11.Chị Lê Thị Mai L2, sinh năm 1989 Đều trú tại: TDP V, T, phường T, TP P, tỉnh Thái Nguyên (Anh H3, chị L2 có đơn xin xét xử vắng mặt và từ chối tham gia tố tụng). 4. Người làm chứng: Ông Ngô Văn C1, sinh năm 1962 Địa chỉ: TDP A, phường Đ, TP P, tỉnh Th i Nguyên.

(Ông C1 có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn bà Ngô Thị H (tên gọi khác H1), trình bầy:

Ngày 02/11/2021, vợ chồng ông T2, bà H có nhận chuyển nhượng của vợ chồng anh Ngô Tuấn T3, chị Đỗ Thị H4 thửa đất s 228b.

Ngày 18/11/2021, gia đình bà đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất s DĐ 836551, tại thửa đất s 2783 (chỉnh lý từ thửa 228b), tờ bản đồ s 23, diện tích 99,00m2, đất ở tại đô thị.

Sát thửa đất của gia đình ông bà là đất của gia đình ông Nguyễn Văn K, do đất của ông bà chưa sử dụng nên ông K đã dựng 01 c nh cổng sắt chắn tại vị trí l i vào, trước thửa đất của ông bà để bảo vệ nhà, tài sản của ông K phía trong. Khi gia đình ông bà có nhu cầu sử dụng đất đã yêu cầu ông K dỡ bỏ c nh cổng sắt chắn tại vị trí l i vào thửa đất để gia đình ông bà có l i đi vào thổ cư của mình. Bà đã yêu cầu nhiều lần ông K vẫn không th o dỡ. Vị trí c nh cổng sắt ông K chặn trước thửa đất của ông bà là đất hành lang tính từ đường giao thông từ Ba Hàng đi phường T. Về quan hệ gia đình, giữa bà với bà T1 (vợ ông K) là hai chị em ruột thịt, từ trước đến nay không có mâu thuẫn gì.

Về nguồn g c của thửa đất s 2783, tờ bản đồ s 23 ông bà đang sử dụng (được cấp giấy chứng nhận mang tên Ngô Thị H, Tạ Văn T2) là của gia đình ông K (thửa đất s 228, tờ bản đồ s 2), ông K đã chuyển nhượng cho anh Ngô Tuấn T3 và chị Đỗ Thị Huyền T4 vào năm 2004, khi ông K chuyển nhượng cho Ngô Tuấn T3 là bán một phần đất thửa đất, diện tích bán là 99m2; anh T3 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 99m2 thửa đất s 228b, tờ bản đồ s 2.

Nay bà yêu cầu Tòa n giải quyết:

1. Buộc ông K phải trả lại l i đi vào thửa đất s 2783, tờ bản đồ 23 của gia đình bà mang tên Tạ Văn T2 và Ngô Thị H do Sở tài nguyên & môi trường tỉnh T cấp năm 2021;

2. Yêu cầu ông K, bà T1 tháo dỡ cánh cổng sắt trả lại l i đi vào thổ cư của gia đình ông bà thuộc thửa đất 2783, tờ bản đồ 23 và yêu cầu ông K chấm dứt các hành vi cản trở đ i với l i đi vào thửa đất của gia đình.

3. Yêu cầu ông K phải chấm dứt hành vi cản trở quyền l i đi của ông K đ i với của gia đình bà.

Bị đơn ông Nguyễn Văn K, trình bày:

Ông và bà T1 là chủ sử dụng thửa đất s 228, tờ bản đồ s 2, diện tích 280m2 (đất thổ cư), được cấp giấy chứng nhận QSD đất s DD632249, cấp ngày 28/4/2004.

Th ng 6/2004 ông bà chuyển nhượng cho ông Ngô Văn C1 nhưng thủ tục chuyển nhượng ghi tên con trai ông C1 là Ngô Tuấn T3, diện tích 99m2 trong thửa đất s 228, tờ bản đồ s 2, phần đất còn lại ông bà vẫn sử dụng. Khi b n đất cho ông C1 ông đã nói “đất không có đường vào, khi nào sử dụng đất tôi tạo điều kiện cho”. Hai bên cũng chỉ nói miệng như vậy, không lập thành văn bản và ông C1 cũng đồng ý mua cho con trai, do vậy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông K và anh T3 được thực hiện, anh T3 đã được cấp giấy CNQSD đất.

Năm 2021 anh T3 và bà H, ông T2 làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất cho nhau, trước khi 2 bên chuyển nhượng ông có biết và nói với vợ chồng bà H là “Đất không có đường vào”, nhưng vợ chồng bà H vẫn mua. Thủ tục chuyển nhượng hai bên thực hiện ông không ký giáp ranh. Ông công nhận thửa đất là của gia đình bán cho anh T3 và nay bà H và ông T2 mua lại, nhưng ông không b n l i đi, do đó thửa đất không có l i đi.

Về c nh cổng sắt dựng trước thửa đất bà H, ông T2 đã mua được gia đình ông dựng từ khoảng 6, 7 năm nay, mục đích để ngăn trộm cắp đi vào nhà của ông. Do gia đình kinh doanh mặt hàng thiết yếu của gia đình. Theo bản đồ địa chính c nh cổng này được dựng tại thửa đất s 229, tờ bản đồ s 2, diện tích 284m2 (thổ cư) cũng là đất của gia đình ông nhưng trước đó là đất canh tác nên không có đường vào.

Bà H yêu cầu ông bà phải dỡ bỏ c nh cổng sắt trả lại l i đi vào thổ cư cho gia đình và đề nghị chấm dứt hành vi cản trở quyền l i đi ông không nhất trí, x c định c nh cổng sắt được đặt tại ;vị trí đất thổ cư của gia đình ông bà.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bầy:

Ông Tạ Văn T2 trình bầy tại bản tự khai:

Về lời trình bầy của bà H (là vợ ông) là hoàn toàn đúng, nay bà H khởi kiện về tranh chấp l i đi đ i với ông Nguyễn Văn K ông đồng ý, đề nghị Tòa n giải quyết theo quy định của pháp luật. Về m i quan hệ gia đình, bà H với bà T1 là hai chị em ruột, trước đó không có mâu thuẫn.

Bà Ngô Thị T1 trình bầy tại bản tự khai và tại phiên toà:

Về yêu cầu khởi kiện của bà H, ông T2 bà không đồng ý, phần l i đi ông T2, bà H khởi kiện đ i với gia đình bà đòi th o dỡ c nh cổng sắt trả lại l i đi, phần đất này thuộc đất nông nghiệp của gia đình và một phần đất ở, cánh cổng sắt có công sức đóng góp của c c con trai và con dâu ông bà, nên đồng ý quan điểm trình bầy của ông K, không trả lại l i đi cho bà H và ông T2.

Về sơ đồ địa chính bà được cung cấp hiện phần l i vào của bà H và ông T2 đ i với thửa đất là đất của gia đình bà thuộc một phần đất ở và đất nông nghiệp, diện tích khoảng 40 m2. Do vậy, ông T2 và bà H không thể đi qua đất của gia đình bà. Về thửa đất bán cho ông C1 gia đình bà không có ý kiến và cũng không tranh chấp thửa đất đã bán.

Tại bản tự khai, người có quyền và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quang T5 và chị Hoàng Thị Thanh H5 (con trai, con dâu của ông K) trình bày:

Diện tích đất đang tranh chấp giữa vợ chồng bà H, ông T2 và b mẹ anh (ông K, bà T1) gia đình anh đã sử dụng từ năm 1991 cho đến nay, không tranh chấp với ai. Thửa đất vợ chồng bà H, ông T2 đang sử dụng trước đó là đất của gia đình anh, sau đó b n cho anh Ngô Tuấn T3 và anh T3 b n lại cho bà H, ông T2 nhưng ở một thửa đất khác, nên việc khởi kiện của bà H ông T2 là không có cơ sở. Trên diện tích đất tranh chấp có 01 cánh cổng sắt do vợ chồng anh làm, anh chị không đồng ý th o dỡ c nh cổng theo yêu cầu của bà H ông T2.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan anh Ngô Tuấn T3, chị Đỗ Thị Huyền T4 trình bày tại bản tự khai:

Việc mua bán thửa đất do b làm, anh chỉ đứng tên trên giấy chứng nhận, mọi quyền quyết định do b , nay thửa đất đã b n anh không có ý kiến gì với c c bên.

Người làm chứng ông Ngô Văn C1 trình bày:

Về nguồn g c thửa đất vợ chồng chị H, anh T2 đang sử dụng là của ông K, ông đã mua lại cho con trai ông là Ngô Tuấn T3, sau đó do anh T3 không có nhu cầu sử dụng đã b n lại cho bà H, ông T2. Khi nhận chuyển nhượng đất đã tiến hành đo đạc đất, thỏa thuận về l i vào do là đất ở, l i vào đất cũng chính là hành lang giao thông do nhà nước quản lý. Ông K cho rằng thời điểm mua b n đất không có l i vào đất là không đúng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm s 14/2022/DSST ngày 19/7/2022 Toà án nhân dân thành ph Phổ Yên, tỉnh Th i Nguyên đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 9 điều 26, điều 35, 39, 147, 157, 158, 165, 166, 271, 273, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 10; Điều 12; Điều 125, Điều 155; Điều 170, Điều 171; khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai 2013.

Điều 169, Điều 248, Điều 245, Điều 254 Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miền, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị H đối với ông Nguyễn Văn K về tranh chấp lối đi, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền lối đi”

1.1 Xác định phần diện tích được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 1 (trên trích đo hiện trạng) có diện tích 33,75m2 là lối đi vào thửa đất 2783, tờ bản đồ số 23 (02) của bà Ngô Thị H và ông Tạ Văn T2. Vị trí lối đi thuộc TDP T, phường Đ, TP P, tỉnh Thái Nguyên (hành lang đường giao thông do UBND thành phố P quản lý);

1.2. Buộc ông Nguyễn Văn K và các thành viên trong gia đình phải tháo dỡ 01 cánh cổng sắt khung bằng ống thép, nan cửa bằng thép vuông có bịt tôn, diện tích 20,25 m2; 01 trụ cổng gắn liền cánh cổng. Vị trí cánh cổng sắt: tại đất hành lang giao thông (12m) (có sơ đồ kèm theo).

1.3. Buộc ông Nguyễn Văn K và các thành viên trong gia đình phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc sử dụng lối đi vào thửa đất số 2783, tờ bản đồ 23 (02), diện tích 99m2 giấy chứng nhận QSD đất mang tên ông Tạ Văn T2 và bà Ngô Thị H (vị trí, diện tích, kích thước lối đi đã nêu tại mục 1.1).

2. Về bồi thường giá trị công trình trên lối đi: Ghi nhận bà Ngô Thị H tự nguyện trả cho gia đình ông K và các thành viên trong gia đình giá trị cánh cổng sắt là 7.229.000đ (bẩy triệu bẩy trăm hai mươi chín ngàn đồng).

Về lãi suất do đương sự chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về chi phí đo đất, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Ghi nhận nguyên đơn bà Ngô Thị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố thẩm định, đo đất và chi phí tố tụng khác, đã nộp và chi phí xong số tiền 4.000.000đ

4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn K phải chịu 300.000đ án phí DSST nộp ngân sách Nhà nước.

Bà H tự nguyện chịu án phí có giá ngạch số tiền bồi thường cho ông K cánh cổng sắt là: 361.450đ (được làm tròn 362.000đ). (Bằng chữ: ba trăm sáu mươi hai ngàn đồng).

Bà H không phải nộp án phí sơ thẩm, được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002208 ngày 16/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, nhưng được tạm giữ lại để đối trừ tiền án phí có giá ngạch tự nguyện nộp, bà H còn phải nộp tiếp 62.000đ (Sáu mươi hai ngàn đồng).

Ngoài ra bản n còn tuyên về nghĩa vụ thi hành n, quyền kh ng c o.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 4/10/2023 bị đơn ông Ngô Văn K1 kháng c o toàn bộ bản n, với lý do có sự giả mạo chữ ký của ông trong c c văn bản ký gi p gianh để được cấp quyền sử dụng đất, diện tích thỏa thuận miệng cho ông T3 là 1,2m x 8m. Đề nghị hủy toàn bộ bản n sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm ông K1 bổ sung nội dung kh ng c o yêu cầu kiểm tra thửa đất 2783 của ông Tạ Văn T2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo ph p luật của Thẩm ph n, chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ n đến trước khi nghị n đã thực hiện đúng c c quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ n: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n. Không chấp nhận kh ng c o của ông Ngô Văn K1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm s t ph t biểu ý kiến, Hô i đồng xét xử nhận định:

[1.] Về thủ tục tố tụng:

:Bị đơn ông Ngô Văn K1 kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp dự phí kh ng c o là hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

:Về sự có mặt của những người tham gia t tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh T, anh Ngô Tuấn T3, chị Đỗ Thị Huyền T4, anh Ngô Quang H3, chị Lê Thị Mai L2 có đơn xin xét xử vắng mặt; UBND thành ph P, bà Ngô Thị T1, chị Nguyễn Thị Thanh H2 vắng mặt. Xét thấy những người nêu trên được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ khoản 2 Điều 227; Khoản 2 Điều 228 Bộ luật t tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt c c đương sự nêu trên.

[2.] Về nội dung: [2.1] Xét kh ng c o của ông Ngô Văn K1. [2.1.1]: Ngày 4/6/2004 ông Nguyễn Quang K2 ( Nguyễn Văn K) và bà Ngô Thị T1 chuyển nhượng cho anh Ngô Tuấn T3 99m2 đất tại thửa 228. Tại Điều 1 mô tả vị trí cụ thể, đông gi p canh t c, tây giáp thổ cư cũ, nam gi p tim đường 12m, bắc gi p đất canh tác ( BL 90, 91, 92, 93) Hợp đồng này do chính ông K viết. Kèm theo hợp đồng có sơ đồ kỹ thuật thửa đất (BL 91) thể hiện vị trí ông K chuyển nhượng cho anh Ngô Tuấn t gi p đường giao thông ( BL 94). Đến ngày 24/6/2004 anh Ngô Tuấn T3 được cấp giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đấttại thửa 228b, 99m2, mục đích sử dụng T ( thổ cư). [2.1. 2]: Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Văn K xác nhận không có tranh chấp gì với anh Ngô Tuấn T3, việc cấp giấy chứng nhận cho anh T3 là đúng với nội dung chuyển nhượng giữa 2 bên.

: Ngày 25/10/2021 anh Ngô Tuấn T3 và vợ là chị Đỗ Thị Huyền T4 chuyển toàn bộ thửa đất trên cho ông Tạ Văn T2 và bà Ngô Thị H ( BL 115, 116, 117, 118) Ngày 18/11/2021 ông Tạ Văn T2 và bà Ngô Thị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s DĐ 836551, tại thửa đất s 2783 (chỉnh lý từ thửa 228b), tờ bản đồ s 23, diện tích 99,00m2, đất ở tại đô thị. ( BL102).

:Tại kết quả đo hiện trạng ngày 10/6/2022 x c định phần diện tích đất l i đi vào thửa đất s 2783 (chỉnh lý từ thửa 228b), tờ bản đồ s 23 là đất hành lang giao thông. Ngoài ra theo kết quả đo thì hành lang giao thông xác định là 12m ( BL 86)

: Như vậy, có đủ căn cứ để x c định năm 2004 ông K bà T1 khi chuyển nhượng cho ang Ngô Tuấn T3 thì đã xác định thửa đất gi p đường giao thông, sau đó anh T3 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho ông T2 bà H.

Đ i với nội dung ông K trình bày tại phiên tòa phúc thẩm đó là khi b n đất cho ông Ngô Văn C1 ( b đẻ anh T3) có thỏa thuận miệng là nếu ông C1 cho con trai ở ( anh T3) thì ông nhất trí cho 1,2m đường đi, còn bán cho người khác thì người nào mua mu n có đường đi phải thỏa thuận với ông. Về nội dung này ông Ngô Văn C1 có mặt tại phiên tòa cho rằng ông K khai như vậy là không đúng vì nếu lúc đó ông K nói như vậy thì ông không bao giờ mua đất của ông K. HĐXX thấy rằng lời trình bày của ông K không đúng với hợp đồng chuyển nhượng ông K ký kết với anh T3 ( con trại ông C1) và càng không phù hợp với thực tế khi chuyển nhượng đất. Do vậy, không chấp nhận lời trình bày này của ông K.

Nội dung ông K yêu cầu kiểm tra thửa đất kiểm tra thửa đất 2783 của ông Tạ Văn T2, gi m định biên bản ký gi p gianh. Xét thấy qu trình giải quyết cấp sơ thẩm đã kiểm trang hiện trạng thửa 2783 của ông Tạ Văn T2 ( BL 86) nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của ông K.

Như vậy, với những phân tích ở trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đ i với bị đơn. Tòa n cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ. Không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn.

[3.] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.

[4.] Về n phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà H được chấp nhận nên ông K phải chịu n phí sơ thẩm không có giá ngạch đ i với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận; Bà H tự nguyện chịu án phí có giá ngạch khoản tiền bồi thường nên ghi nhận, được đ i trừ vào khoản tiền nộp tạm ứng n phí.

Về n phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn K phải chịu 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.

. Về chi phí t tụng: Khoản tiền chi phí đo đất, thẩm định và định gi s tiền 4.000.000đ, bà H là nguyên đơn tự nguyện chịu mà không yêu cầu ông K phải có tr ch nhiệm hoàn trả.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự, Điều 95, 96, 97, 100, khoản 1 Điều 166, Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n. Không chấp nhận kh ng c o của bị đơn. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm s 14/2022/DS-ST ngày 27/9/2022 của Tòa n nhân dân thành ph Phổ Yên, tỉnh Th i Nguyên.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị H (Ngô Thị H1) đ i với ông Nguyễn Văn K về tranh chấp l i đi, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền l i đi”.

1.1 X c định phần diện tích được giới hạn bởi c c điểm 1, 2, 3, 4, 1 (trên trích đo hiện trạng) có diện tích 33,75m2 là l i đi vào thửa đất 2783, tờ bản đồ s 23 (02) của bà Ngô Thị H và ông Tạ Văn T2. Vị trí l i đi thuộc TDP T, phường Đ, TP ., tỉnh Thái Nguyên. (hành lang đường giao thông do UBND thành ph P quản lý);

1.2. Buộc ông Nguyễn Văn K và các thành viên trong gia đình phải th o dỡ 01 c nh cổng sắt khung bằng ng thép, nan cửa bằng thép vuông có bịt tôn, diện tích 20,25 m2; 01 trụ cổng gắn liền cánh cổng. Vị trí cánh cổng sắt: tại đất hành lang giao thông (12m) (có sơ đồ chi tiết kèm theo).

1.3. Buộc ông Nguyễn Văn K và các thành viên trong gia đình phải chấm dứt hành vi cản trở tr i ph p luật đ i với việc sử dụng l i đi vào thửa đất s 2783, tờ bản đồ 23 (02), diện tích 99m2 giấy chứng nhận QSD đất mang tên ông Tạ Văn T2 và bà Ngô Thị H (vị trí, diện tích, kích thước l i đi đã nêu tại mục 1.1).

2. Về bồi thường giá trị công trình trên l i đi: Ghi nhận bà Ngô Thị H (Ngô Thị H1) tự nguyện trả cho gia đình ông K và các thành viên trong gia đình gi trị c nh cổng sắt là 7.229.000đ (bẩy triệu bẩy trăm hai mươi chín ngàn đồng).

Về lãi suất do đương sự chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về chi phí đo đất, xem xét thẩm định tại chỗ và định gi tài sản:

Ghi nhận nguyên đơn bà Ngô Thị H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí t thẩm định, đo đất và chi phí t tụng khác, đã nộp và chi phí xong s tiền 4.000.000đ.

4. Về n phí:

4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Văn K phải chịu 300.000đ n phí DSST nộp ngân s ch Nhà nước.

- Bà H tự nguyện chịu án phí có giá ngạch s tiền bồi thường cho ông K cánh cổng sắt là: 361.450đ (được làm tròn 362.000đ). (Bằng chữ: ba trăm s u mươi hai ngàn đồng).

Bà H không phải nộp n phí sơ thẩm, được trả lại tiền tạm ứng n phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu s 0002208 ngày 16/5/2022 của Chi cục thi hành n dân sự thành ph Phổ Yên, nhưng được tạm giữ lại để đ i trừ tiền án phí có giá ngạch tự nguyện nộp, bà H còn phải nộp tiếp 62.000đ (Sáu mươi hai ngàn đồng).

4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn K phải chịu 300.000đ n phí dân sự phúc thẩm, được trừ từ tạm ứng n phí phúc thẩm theo biên lai thu s 0002381 ngày 07 th ng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành n dân sự thành ph Phổ Yên, tỉnh Th i Nguyên Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được Thi hành án Dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.

Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n./.

Cỡ chữ