- Tranh chấp gì? "Trần Bá T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH H ---***--- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
B¶n ¸n sè : 09/2018/HSST Ngµy: 27/4/2018
Nh©n danh
NƯíc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ H
Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
-------------------------------
*/Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quang L.
*/Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Hữu S
2/ Bà Nguyễn Thị H
- Đại diện VKSND TP. H: Bà Nguyễn Thị H – Kiểm sát viên.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Q – Cán bộ Tòa án.
Hôm nay ngày 27/4/2018 nhà văn hóa khu phố N, phường H, TP H, tỉnh H mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2018/ HSST, ngày 06/4 /2018 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/HSST ngày 16/4/2018 của TAND thành phố H, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Bá T, sinh năm: 1997.
Sinh trú quán: Đội 7, thôn Đ, xã T, thành phố H, tỉnh H.
Quốc tịch: Việt Nam.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 6/12.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Họ và tên cha: Trần Bá T, sinh năm: 1954. Đã chết.
Họ và tên mẹ: Trần Thị K, sinh năm: 1962. Đã chết.
Em gái: Trần Thị N, sinh năm 2000 (học sinh)
Tiền án: Ngày 20/12/2016 Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt T 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt ra tù ngày 28/03/2017.
Bị cáo Trần Bá T bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 05/3/2018. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh H
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa
*/- Người bÞ h¹i:
- Cháu Lê Xuân C, sinh năm 2003 – Vắng mặt có lý do;
Người giám hộ cho cháu C và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Gia C, sinh năm 1958( Bố đẻ cháu C) – Có mặt
- Địa chỉ: Thôn L, xã H, TP H, tỉnh H.
*/- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại: Bà Đỗ Thị H– Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp nhà nước tỉnh H.
- Có mặt tại phiên tòa.
*/- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Tạ Ngọc K, sinh năm 1991 – Vắng mặt tại phiên Tòa.
- HKTT: Thôn M, huyện Â, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Trần Bá T bÞ ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố H truy tè vÒ hµnh vi ph¹m téi như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 17/11/2017 Trần Bá T, sinh năm: 1997, trú tại Đội 7, Đ, T, thành phố H, tỉnh H đang chơi điện tử trong quán Vega Game trên đường T, phường A, thành phố H thì gặp Lê Xuân C, sinh năm 2003, trú tại thôn L, xã, thành phố H cũng đang chơi game tại quán. Đến khoảng 24 giờ cùng ngày T nhờ C đưa về nhà, C đồng ý. Khi đi ra khỏi quán điện tử T nảy sinh ý định mượn xe máy của C mang đi cầm cố lấy tiền tiêu sài cá nhân, nên T bảo C đưa chìa khoá chiếc xe máy của C nhãn hiệu Honđa Wave màu đỏ - đen, biển số 55P7- 5645, để T điều khiển. Khi T chở C về đến nhà T ở Đội 7, Đ, T, TP H, T bảo C đứng đợi ở cổng rồi T đi vào trong nhà nói chuyện với anh Trần Văn T, sinh năm 1993 là anh họ của T và được biết anh T chưa ăn gì. Thấy vậy, T nghĩ để cho C yên tâm nên T đã nói dối C là mượn xe máy để đi ra khu vực C thành phố H mua thức ăn rồi về trả xe ngay và bảo C vào trong nhà đợi. C thấy T nói như vậy đã tin tưởng đồng ý cho T mượn xe, T điều khiển xe máy đi lên khu vực ngã tư B, huyện K, tỉnh H để tìm nơi cầm cố chiếc xe của C. Tại đây T vào một quán điện tử mục đích tìm bạn bè quan mạng xã hội Facebook để cầm cố xe cho T, khoảng 03 giờ sáng ngày 18/11/2017 T nhắn tin nói chuyện qua Facebook với anh Tạ Ngọc K, sinh năm 1991, trú tại M, N, Â, H là bạn quen biết qua Facebook. Đến khoảng 7 giờ sáng cùng ngày T gặp anh K ở ngã tư B và T nói với anh K đang có việc cá nhân cho T vay 3.000.000 đồng T để lại chiếc xe máy để làm tin, anh K kiểm tra xe có hỏi T về nguồn gốc chiếc xe, T nói dối anh K đây là chiếc xe của gia đình T, nên anh K đã tin tưởng và đồng ý cho T vay 3.000.000đồng rồi cầm xe máy T giao. Số tiền trên T dùng để chơi game và tiêu sài cá nhân hết.
Chờ không thấy T quay lại trả xe máy anh C nhờ anh Trần Văn T gọi điện nhưng anh T không có số nên không gọi được, C phải đi về nhà, đến ngày 04/12/2017, anh Lê Xuân C có đơn trình báo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T đến Công an Thành phố H.
Ngày 30/11/2017 anh Tạ Ngọc K tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen biển số 55P7- 5645, số khung: Y- 023546, số máy: E - 2523596, xe đã qua sử dụng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H và khai nhận khi cho T vay tiền và cầm chiếc xe trên không biết đây là tài sản do T lừa đảo chiếm đoạt mà có.
Tại bản Kết luận định giá tài sản kèm theo biên bản định giá số 77 ngày 20/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng thành phố H kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển số: 55P7-5645 có giá trị là 3.500.000 đồng.
Ngày 09/03/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đã trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hondđa Wave màu đỏ- đen, biển số 55P7- 5645 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lê Gia C, sinh năm 1958 trú tại thôn Lê Như H, xã H, thành phố H là bố đẻ anh Lê Xuân C. Sau khi nhận lại tài sản, ông C không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Đối với anh Tạ Ngọc K khi cho T vay tiền và cầm chiếc xe nhãn hiệu Honđa Wave màu đỏ đen, BKS 55P7- 5645 không biết đây là tài sản do T lừa đảo chiếm đoạt, nên không có căn cứ để xử lý.
*/- Về trách nhiệm dân sự: Anh Tạ Ngọc K yêu cầu Trần Bá T trả anh số tiền 3.000.000đồng mà T vay ngày 18/11/2017.
Quá trình điều tra Trần Bá T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày 17/11/2017 tại Đ, T, thành phố H phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai người bị hại, hiện trường vụ án và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạng số 11/QĐ – VKS ngày 05/4/2018 của VKSND thành phố H đã truy tố bị cáo Trần Bá T ra trước tòa án nhân dân thành phố H để xét xử về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 174 của bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
- Người giám hộ cho cháu C đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Gia C khẳng định đã nhận lại chiếc xe máy và không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm nữa và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại bà Đỗ Thị H: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T 02 năm tù.
- §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố H phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 điều 174; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 điều 47 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357 và Điều 468; Điều 584, Điều 585 của BLDS; Nghị quyết số 326/ 2016/NQ – UBTVQH ngày 30/12/2016, về mức án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Trần Bá T từ 01 năm 03 tháng – 01 năm 06 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đã trả lại cho ông Lê Gia C chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển số: 55P7-5645, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
*/- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Bá T phải trả cho anh Tạ Ngọc K số tiền 3.000.000đồng.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và anh K có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, nếu bị cáo T chậm thi hành trả khoản tiền trên cho anh K, thì sẽ phải chịu lãi suất theo quy định tại các Điều 357 và Điều 468 của BLDS;
- Buộc bị cáo T phải chịu án phí HSST và án phí dân sự.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Lêi khai nhËn téi cña bị cáo Trần Bá T t¹i phiªn tßa h«m nay, hoµn toµn phï hîp víi chÝnh lêi khai cña bÞ c¸o t¹i c¬ quan ®iÒu tra vµ phï hîp víi đơn trình báo và lêi khai của người bÞ h¹i anh Lê Xuân C ( BL 54 - 59) và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Tạ Ngọc K ( BL 60 - 64); phù hợp với lời khai của những người làm chứng ông Dương Văn B và ông Lê Gia C người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ( BL 65 - 68) cùng lời khai của anh Trần Văn T là bạn của Trần Bá T ( BL 69 - 70); phù hợp với biên bản định giá tài sản và kết luận định giá tài sản ( BL 23 - 25) cïng vật chứng đã thu giữ được trả lại cho ông Lê Gia C là 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hondđa Wave màu đỏ- đen, biển số 55P7- 5645 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lê Gia C. Ngoài ra còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa.
Do đó đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 24 giờ 00 phút ngày 17/11/2017 tại Đ, T, thành phố H, tỉnh H Trần Bá T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ - đen biển số 55P7-5645 đã qua sử dụng của anh Lê Xuân C chủ sở hữu là ông Lê Gia C có trị giá là: 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).
Nên VKSND thành phố H đã truy tố bị cáo Trần Bá T ra trước tòa án nhân dân thành phố để xét xử về về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối lừa cháu C để chiếm đoạt tài sản của cháu C được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã gây tâm lý hoang mang và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an ninh xã hội. Do đó cần phải dành cho bị cáo một hình phạt tù thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo, đồng thời là bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
- Tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo T bị TAND thành phố H xử phạt 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt ra tù ngày 28/03/2017. Đến ngày 18/11/2017, T lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý khi chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 – BLHS;
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp khác:
*/- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 điều 47 – BLHS; Điều 466; Điều 468; Điều 584 – BLDS, buộc bị cáo Trần Bá T phải trả cho anh Tạ Ngọc K số tiền 3.000.000 đồng mà T vay ngày 18/11/2017.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và anh K có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, nếu bị cáo chậm thi hành trả khoản tiền trên cho anh K, thì sẽ phải chịu lãi theo quy định tại các Điều 357 và Điều 468 của BLDS;
*/- Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển số: 55P7-5645 là vật chứng của vụ án và đã trả lại cho ông Lê Gia C là chủ sở hữu, nên không đặt ra xem xét.
*/- VÒ ¸n phÝ: Buộc bị cáo T ph¶i chÞu ¸n phÝ s¬ thÈm h×nh sù và án phí dân sự về khoản tiền phải trả cho anh K, theo quy ®Þnh t¹i Nghị quyết số 326/ 2016/NQ – UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức án phí, lệ phí Tòa án.
*/- VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, cã quyÒn kh¸ng c¸o theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
V× c¸c lÏ trªn;
quyÕt ®Þnh
*/ -Tuyên bố: Bị cáo Trần Bá T phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
*/- Áp dụng pháp luật: Khoản 1 điều 174; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 điều 47 – BLHS năm 2015; Điều 357 và Điều 466; Điều 468; Điều 584; Điều 585 của BLDS; Nghị quyết số 326/ 2016/NQ – UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức án phí lệ phí Tòa án.
*/- Xử phạt: Bị cáo Trần Bá T 01 ( Một) năm 03 ( Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 05/3/2018.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp khác:
*/- Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển số: 55P7-5645 cho ông Lê Gia C, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
*/- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Bá T phải trả cho anh Tạ Ngọc K số tiền 3.000.000đồng.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và anh K có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, nếu bị cáo chậm thi hành trả cho anh K số tiền trên, thì sẽ phải chịu lãi theo quy định tại các Điều 357 và Điều 468 của BLDS tương ứng với thời gian chậm thi hành;
*/- VÒ ¸n phÝ: Buéc bÞ c¸o Trần Bá T phải chịu 200.000đ tiền ¸n phÝ HSST và 150.000đ tiền án phí dân sự.
*/- Về quyền kháng cáo: Bị cáo T và người giám hộ cho cháu C và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Gia C có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại cháu C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Tạ Ngọc K vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại UBND nơi thường trú.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND thành phố H; - Phòng NV & THA Tòa án tỉnh H; - CA thành phố H; - Lưu hồ sơ vụ án; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Quang L |