vanban.org

Bản án 09/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Nông Văn D, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1964. Nơi cư trú: Thôn L, xã C, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số 020091007695; ngày cấp: 22/11/2024; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an. Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Km10, x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nông Văn D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
  • Căn cứ chính? Điều 42 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 09/QĐ-TALạng Sơn, ngày 14 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Phan Thị Thanh Huyền.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nông Văn Đông.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 09/QĐ-TA ngày 02 tháng 4 năm 2026 và Thông báo hoãn phiên họp số: 01/TB-TLHS ngày 08 tháng 4 năm 2026, đối với:

Họ và tên: Nông Văn D. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 28 tháng 10 năm 1964.

Căn cước công dân: 020091007695, ngày cấp 22 tháng 11 năm 2024; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an.

Dân tộc: Nùng.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: Lớp 06/10.

Nguyên quán: Xã C, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn L, xã C, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 179/ST-HS ngày 23-9-1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 13 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân và 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân, chấp hành xong ngày 09/9/2010; Bản án số 28/2018/HS-ST ngày 07/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 16/11/2024.

Con ông Nông Văn B (đã chết) và bà Lành Thị T (đã chết).

Nông Văn D vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn: Ông Ngô Minh T - Trưởng Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn: Ông Nông Ngọc H - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Nông Văn D là người sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn lập danh sách theo dõi tính đến ngày 09/3/2026.

Ngày 09/3/2026, Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn triệu tập Nông Văn D lên kiểm tra Test ma túy theo định kỳ, thì được biết tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 09/3/2026 của Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn đối với Nông Văn D cho kết quả dương tính với chất ma túy. Cùng ngày Nông Văn D đã tự nguyện có đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy gửi đến Trạm y tế xã C, tỉnh Lạng Sơn. Tại phiếu kết quả xác định người nghiện chất ma túy của Trạm y tế xã C thuộc trung tâm y tế khu vực C, tỉnh Lạng Sơn ngày 12/3/2026 cho kết quả Nông Văn D nghiện ma túy Heroin. Cùng ngày Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn đã thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, đề nghị anh Nông Văn D đi đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo Điều 28 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ và lập văn bản giao, nhận Thông báo đến Nông Văn D.

Hết thời hạn đăng ký cai nghiện tự nguyện, ngày 19/3/2026 Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn đã lập biên bản làm việc với Nông Văn D và xác nhận đã nhận được thông báo số 185/TB-CAX ngày 12/3/2026 về kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của mình. Đồng thời Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn tiến hành xác minh tại Cơ sở điều trị Methadone thuộc Trung tâm Y tế khu vực C và Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Lạng Sơn thì được biết từ ngày 12/3/2026 đến ngày 19/3/2026, Nông Văn D không đăng ký cai nghiện tự nguyện và không đăng ký điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã C và Cơ sở điều trị Methadone thuộc Trung tâm Y tế khu vực C, tỉnh Lạng Sơn. Cùng ngày 19/3/2026, Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; ban hành văn bản số: 209/TB-CAX thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn D. Ngày 24/3/2026 Trưởng Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định số: 228/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và giao Nông Văn D cho gia đình (con đẻ Nông Văn D) quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 30/3/2026, Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn đã ban hành công văn số: 234/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn D.

Sau khi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện, Nông Văn D viết bản tường trình tại Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn khẳng định bản thân sử dụng ma túy từ năm 2018, từ sau khi chấp hành án xong trở về địa phương tháng 11 năm 2024 đến nay vẫn thường sử dụng trái phép chất ma túy, lần sử dụng gần nhất là vào ngày 06/3/2026, đã bị lập biên bản vi phạm hành chính, thông báo xác định tình trạng nghiện ma túy và hướng dẫn đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng Nông Văn D không tham gia chương trình cai nghiện tự nguyện.

Tại phiên họp, đại diện Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Đối tượng Nông Văn D là người nghiện ma túy và thường xuyên có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn D với thời hạn từ 18 đến 20 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Việc giải quyết vụ việc kể từ khi thụ lý đến thời điểm phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn đã thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sửa đổi Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các Điều 3, 8, 9, 10, 12, 13, 17, 18, 21 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, các 95, 96, 103, 104, 105, 106 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41; khoản 1, 2, 3 Điều 42; Điều 44 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Có căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn D theo đề nghị của Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian áp dụng từ 18 tháng - 20 tháng.

XÉT THẤY:

[1] Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41, các khoản 1, 2, 3 Điều 42, Điều 44 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Cụ thể, hồ sơ đề nghị đã có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu gồm: Biên bản vi phạm hành chính, bản tóm tắt lý lịch, tài liệu chứng minh tình trạng nghiện hiện tại, bản tường trình của người bị đề nghị; Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các tài liệu chứng minh hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, phù hợp theo quy định tại Điều 95, 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục: Theo khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nông Văn D có nơi thường trú ổn định tại thôn L, xã C, tỉnh Lạng Sơn nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Trưởng Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn và Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn D.

Về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Nông Văn D, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1964, đã trên 18 tuổi và có năng lực trách nhiệm hành chính nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về thời hiệu áp dụng: Đảm bảo thời hiệu 03 (ba) tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Nông Văn D là người nghiện chất ma túy, sau khi hết thời hạn kể từ ngày nhận kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện, không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, tại Ủy ban nhân dân xã C và Trung tâm y tế khu vực C, tỉnh Lạng Sơn nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 12 Điều 2, khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

Nông Văn D là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm các quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Nông Văn D đã không tuân thủ các quy định của pháp luật về cai nghiện ma túy tự nguyện, vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở khẳng định hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn D là đầy đủ, hợp pháp, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Nông Văn D gây ra, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn D trong một khoảng thời gian nhất định, đủ để Nông Văn D có thời gian lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc; giáo dục Nông Văn D trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên cũng cần xem xét đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của đối tượng để đưa ra mức áp dụng cho phù hợp.

Xét về nhân thân: Nông Văn D không có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện ma túy, đã nhiều lần bị kết án như phần đầu quyết định này đã nêu nên xác định có nhân thân không tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, Nông Văn D tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến tại phiên họp, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy mức đề nghị của Công an Xã C, tỉnh Lạng Sơn và Viện kiểm sát nhân dân khu 4 - Lạng Sơn tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, các Điều 95, 96, 103, 104, 105, 106, 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ khoản 12 Điều 2, khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.

Căn cứ các Điều 3, 8, 9, 18, 21, 23, 24, 25, 31, 32, 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sửa đổi Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Căn cứ khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 41; các khoản 1, 2, 3 Điều 42; Điều 44 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Nông Văn D, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1964. Nơi cư trú: Thôn L, xã C, tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số 020091007695; ngày cấp: 22/11/2024; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Km10, xã Tân Đoàn, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn thi hành quyết định.

Cỡ chữ