- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H phạm tội "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2026/HS-ST Ngày 28-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Thẩm phán: Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cao Thị Hạ
Bà Nguyễn Thị Luyến
Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 381/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 367/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Lò Văn H, sinh năm 1982 tại tỉnh Sơn La. Nơi thường trú: Bản Lè, xã Chiềng La, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện tại: Thôn Hồ Sen, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lò Văn Biến (đã chết) và con bà Lò Thị Lương (đã chết); có vợ là Cầm Thị Ánh (đã ly hôn) và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25 tháng 7 năm 2025, chuyển tạm giam từ ngày 03 thangs 8 n2025 tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Hữu Chuẩn - Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV Bạch Đằng, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Phạm Hồng Khanh; địa chỉ: Thôn Hồ Sen, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại phòng số 03 nhà nghỉ số 666 thuộc Thôn Hồ Sen, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Phòng phát hiện bắt quả tang Lò Văn H có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 túi zip màu xanh mép viền đỏ kích thước (5x10) cm bên trong có 151 viên màu nén màu hồng (mẫu QT1), 01 túi zip màu hồng kích thước (5x10) cm bên trong có 16 viên màu nén màu hồng (mẫu QT2), 01 gói nilon màu trắng bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục (mẫu QT3), 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục (mẫu QT4), 01 cân điện tử màu đen, 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu OPPO, bên trong gắn sim số 0896.021.768.
Thi hành Lệnh Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lò Văn H, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có 01 bánh chất bột màu trắng kích thước 02x10x12,5cm bọc ngoài bằng giấy màu nâu, in chữ nước ngoài màu đỏ (mẫu KX), 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 3.350.000 đồng.
Kết luận giám định số 556/KL-KTHS ngày 30/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Các viên màu nén màu hồng của mẫu QT1 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 16,71 gam, loại Methamphetamine; các viên màu nén màu hồng của mẫu QT2 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,75 gam, loại Methamphetamine; chất bột màu trắng của mẫu QT3 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 7,93 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu QT4 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,95 gam, loại Heroine; chất bột màu trắng của mẫu KX gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 269,87 gam, loại Heroine.
Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ: Quá trình điều tra, Lò Văn H khai: Trong thời gian làm việc tại công trường đảo Vũ Yên, Hải Phòng, H thấy nhiều người có nhu cầu mua Heroine và Hồng phiến để sử dụng, nên H nảy sinh ý định về Sơn La mua Heroine và hồng phiến mang xuống thành phố Hải Phòng để bán kiếm lời. Khoảng tháng 3 năm 2025, H nhiều lần về bản Pá Lâu, tỉnh Sơn La gặp một nam giới không quen biết mua Heroin và Hồng phiến (H không nhớ số lượng cụ thể) với giá 12 triệu đồng/1 cây Heroin và mua 01 gói Hồng phiến (200 viên/gói) với giá 1.500.000 đồng/gói. Sau khi mua được ma túy, H mang xuống công trường đảo Vũ Yên, Hải Phòng bán lẻ cho người nghiện với giá 100.000 đồng/03 viên hồng phiến, 3 triệu đồng/1 chỉ heroine, tức là 30 triệu đồng/1 cây heroin, mỗi cây Heroin có trọng lượng khoảng 30 gam đến 37,5 gam. Nếu có người mua 1 cây Heroine H sẽ cho 20 viên Hồng phiến, mua 1 chỉ Heroine thì H sẽ cho 3 viên hồng phiến. H đã bán cho nhiều người nhưng không nhớ là ai và bán cho họ bao nhiêu ma túy, H chỉ nhớ bán 02 lần cho một người có tên là Minh khoảng 50 tuổi làm công nhân ở đảo Vũ Yên (không rõ tên tuổi địa chỉ), mỗi lần khoảng 01 cây Heroin với giá 30 triệu đồng, giao dịch trực tiếp tại gần cầu thuộc đảo Vũ Yên, Minh trả H bằng tiền mặt.
Ngày 19 tháng 7 năm 2025, H nhờ một bạn nghiện (không rõ tên tuổi địa chỉ) đi gặp một người nam giới không quen biết tại bản Pá Lâu tỉnh Sơn La mua 01 bánh ma túy Heroine với giá 75.000.000 đồng (bảy mươi lăm triệu đồng) và 02 gói ma túy Hồng phiến với giá 1.500.000 đồng/01 gói. H cắt khoảng 02 chỉ Heroin từ bánh Heroin vừa mua được trả công cho người bạn nghiện đã dẫn đường. Sáng ngày 20 tháng 7 năm 2025, H mang ma túy vừa mua xuống Hải Phòng, thuê 2 đến 3 nhà nghỉ tại Dương Kinh (không nhớ cụ thể là những nhà nghỉ nào). Sáng ngày 22 tháng 7 năm 2025, H bán ma túy cho một người tên Dũng (không rõ tên tuổi địa chỉ) 01 chỉ Heroin với giá là 3.500.000 đồng. Buổi chiều cùng ngày H đã bán cho một người tên là Hiếu (không rõ tên tuổi địa chỉ) 02 chỉ Heroin với giá là 7.000.000 đồng và 30 viên Hồng phiến với giá là 1.000.000 đồng. Cả 02 lần giao dịch mua ma tuý này đều diễn ra tại cánh đồng xã Kiến Thuỵ. Dũng và Hiếu đều trả tiền mua ma tuý cho H bằng tiền mặt.
Tối ngày 24 tháng 7 năm 2025, H đến thuê phòng số 03 nhà nghỉ 666 thuộc tổ dân phố Hồ Sen, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, mang theo toàn bộ số ma túy còn lại cất giấu tại đây để bán. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25 tháng 7 năm 2025, H đang ở trong phòng và cất giấu ma tuý cùng dụng cụ để bán ma tuý trong phòng thì cơ quan công an đến kiểm tra thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Tại Bản Cáo trạng số 72/CT-VKS-P1 ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lò Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Phần tranh luận: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn H như nội dung Bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lò Văn H 20 (Hai mươi) năm tù; phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10 triệu đến 20 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cân điện tử màu đen và 01 hộp giấy có dấu niêm phong số 556MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng, có chữ ký của Trần Thị Kim Nhung, Lò Văn H, Đặng Tiến Đạt bên trong đựng số ma túy còn lại sau giám định của mẫu QT1, QT2, QT3, QT4 và mẫu KX cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định của 05 mẫu trên.
Tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu OPPO có IMEI1: 868800071729374; IMEI2: 868800071729366, có 01 sim có số ICCD: 8984012306120966977 và số tiền 3.350.000 đồng thu giữ của bị cáo.
Trả lại bị cáo Lò Văn H: 01 chiếc áo khoác màu xanh; 01 ví giả da màu nâu.
Người bào chữa của bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố; đồng ý với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Người bào chữa của bị cáo cho rằng lượng ma túy mà bị cáo mua, bán, cất giấu trái phép ma túy để bán số lượng ít nên đề nghị nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được áp dụng hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung:
Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Trong thời gian từ tháng 3 năm 2025 đến ngày 25 tháng 7 năm 2025 tại thành phố Hải Phòng, Lò Văn H có hành vi nhiều lần mua, bán, cất giấu trái phép ma túy để bán gồm 44 gam Methampheamine, 360 gam Heroine. Hồi 20 giờ 30 phút ngày 25 tháng 7 năm 2025, Lò Văn H bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn H đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma tuý là loại chất gây nghiện rất nguy hiểm. Vi phạm các quy định về chế độ quản lý các chất ma tuý không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma tuý của Nhà Nước mà còn đe doạ nghiêm trọng đến an toàn xã hội, trật tự công cộng, sức khoẻ của người dân và sự phát triển chung của đất nước. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc; cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng cải tạo, giáo dục và mới có tác dụng đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Hành vi của mua bán trái phép chất ma túy của Lò Văn H nhằm mục đích thu lợi bất chính. Tuy nhiên, do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về việc xử lý vật chứng:
Số ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định và các túi nilon, lọ đựng ma túy, cân điện tử cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là vật chứng sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước.
01 chiếc áo khoác màu xanh và 01 ví giả da màu nâu trả lại bị cáo.
Đối với số tiền thu giữ của bị cáo 3.350.000 đồng là số tiền do bán ma túy mà có nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lò Văn H là người dân tộc Thái – được pháp luật xác định là dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lò Văn H được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ 25 tháng 7 năm 2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 hộp giấy có dấu niêm phong số 556MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, có chữ ký của Trần Thị Kim Nhung, Lò Văn H, Đặng Tiến Đạt bên trong đựng số ma túy còn lại sau giám định của mẫu QT1, QT2, QT3, QT4 và mẫu KX cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định của 05 mẫu trên.
- 01 cân điện tử màu đen.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 12 năm 2025 giữa Phòng Cảnh sát điều tra và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
2.2. Tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) phong bì niêm phong có dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, có chữ ký của Trần Thị Hạ bên trong có chứa 01 điện thoiaj di động màu xanh, nhãn hiệu OPPO có IMEI1: 868800071729374; IMEI2: 868800071729366, có 01 sim có số ICCD: 8984012306120966977.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 12 năm 2025 giữa Phòng Cảnh sát điều tra và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
- Số tiền 3.350.000 đồng thu giữ của bị cáo (Theo Phiếu hạch toán ngày 03 tháng 12 năm 2025, ĐVH: Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
2.3. Trả lại bị cáo Lò Văn H: 01 chiếc áo khoác màu xanh; 01 ví giả da màu nâu.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 12 năm 2025 giữa Phòng Cảnh sát điều tra và Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12, khoản 3 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lò Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa phúc thẩm TANDTC;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện Công tố & KSXXPT VKSNDTC;
- Vụ 1 - TANDTC;
- VKSND TP Hải Phòng;
- PV06 Công an TP Hải Phòng;
- THADS TP Hải Phòng;
- Bị cáo;
- Trại tạm giam;
- Người tham gia tố tụng;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA;
Bùi Thị Thu Hằng
- Lưu: HS, HCTP.
THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Thu Hằng
Lưu Văn Tỉnh
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Nguyễn Thị Hồng Thúy
Nguyễn Thị Luyến
Cao Thị Hạ
| Nơi nhận: - Tòa phúc thẩm TANDTC; - Viện Công tố & KSXXPT VKSNDTC; - Vụ 1 - TANDTC; - VKSND TP Hải Phòng; - PV06 Công an TP Hải Phòng; - THADS TP Hải Phòng; - Bị cáo; - Trại tạm giam; - Người tham gia tố tụng; - Phòng GĐ, KT, TT và THA; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |