vanban.org

Bản án 09/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 20/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Minh D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh D 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 30-10-2025. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh D - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2026/HS-ST
Ngày: 13 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thanh Châu Giang;

2. Bà Ngô Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST - HS ngày 08 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Minh D, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1980, tại xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Thắng Lợi, xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn D1, sinh năm 1955; Con bà Vũ Thị Th, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1986; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005 và con nhỏ nhất sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28-12-2021 bị Chủ tịch UBND xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái ra Quyết định số 555/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã là đối tượng nghiên ma túy.

Ngày 10-4-2023 bị Công an huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt hành chính số 15/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30-10-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lào Cai (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Nông Đức Trung, sinh năm 1984.

Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28-10-2025, tổ công tác phòng chống tội phạm Công an xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Lê Minh D, sinh năm 1980, trú tại thôn Thắng Lợi, xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai là đối tượng nghiện chất ma túy, đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (theo Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng bằng hình thức điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone số 02/QĐ-UBND ngày 15-3-2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái nay là xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai). Kết quả: Dương tính với chất ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của D để trưng cầu giám định.

Căn cứ vào hành vi phạm tội, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Minh D. Kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định số 2968/KL-KTHS ngày 29-10-2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Trong mẫu nước tiểu thu của Lê Minh D, SN: 1980, HKTT: Thôn Thắng Lợi, xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai thu ngày 28-10-2025 gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine.

Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể.

Morphine: Số thứ tự 55, Danh mục IIA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ.

Tại Cơ quan điều tra Lê Minh D khai nhận: Bản thân là đối tượng cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng bằng hình thức điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, tuy nhiên D vẫn thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26-10-2025, Lê Minh D đi bộ đến khu vực cầu Cổ Phúc thuộc địa phận thôn Cổ Phúc 11, xã Trấn Yên, tỉnh Lào Cai thì gặp một người đàn ông không quen biết (không biết tên, tuổi và địa chỉ). D đã mua được của người đàn ông này 01 gói ma túy với giá 250.000đ, sau đó đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, D đi bộ về ngôi nhà hoang của gia đình tại thôn Thắng Lợi, xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai và một mình sử dụng hết số ma túy vừa mua được bằng hình thức hít qua đường hô hấp vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, D đi bộ ra cầu Cổ phúc thuộc địa phận thôn Bình Minh, xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai và vứt bỏ giấy bạc, bật lửa xuống sông Hồng rồi đi về nhà.

Cáo trạng số: 28/CT-VKS-KV3 ngày 08 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai truy tố Lê Minh D về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 265a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai giữ nguyên toàn bộ nội dụng bản cáo trạng. Đồng thời đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Minh D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 265a; điểm i, p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt bị cáo Lê Minh D từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Lê Minh D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đúng như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo cũng nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng và bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ có bố, mẹ là người tham gia dân công hỏa tuyến, được hưởng chế độ theo Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 14-10-2015 của Thủ tướng Chính phủ được coi là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt.

Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nặng căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Minh Doãn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử;

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Lê Minh D tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Lê Minh D là đối tượng cai nghiện chất ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng bằng hình thức điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Mathadone theo Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái nay là xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai từ ngày 15-3-2022 đến nay Lê Minh D vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26-10-2025, D đã mua 01 gói ma túy (loại Heroine) của một người đàn ông không biết tên, tuổi và địa chỉ với giá 250.000đ. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, D đi bộ về ngôi nhà hoang của gia đình tại thôn Thắng Lợi, xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai và một mình sử dụng hết số ma túy đã mua bằng hình thức hít qua đường hô hấp vào cơ thề. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy Lê Minh D là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của Lê Minh D đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy:

Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh tại địa phương, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác, cần phải được xử lý nghiêm minh và có hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng, răn đe phòng ngừa chung.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28-12-2021 bị Chủ tịch UBND xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái ra Quyết định số 555/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã là đối tượng nghiên ma túy.

Ngày 10-4-2023 bị Công an huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt hành chính số 15/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy thể hiện bị cáo là người có nhân thân không tốt

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo là người khuyết tật nặng; Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; ngoài ra có bố, mẹ là người tham gia dân công hỏa tuyến, được hưởng chế độ theo Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 14-10-2015 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

Những người tham gia tố tụng khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Minh D vào 18 giờ 30 phút ngày 26-10-2025, do D không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này, ngoài lời khai của D không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Lê Minh D là người khuyết tật nặng được Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát khu vực 3 – Lào Cai và người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tuyên bố bị cáo Lê Minh D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh D 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 30-10-2025.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Minh D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. N¬i nhËn:

Cỡ chữ