- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T và đồng bọn phạm tội gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn T, Bùi Trí T1, Nguyễn Văn T và Nguyễn Hữu P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2026/HS-ST Ngày 09/01/2026 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hữu
Ông Phan Công Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng –Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2025/TLST-HS, ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 06/8/2006, tại xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn D, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị B; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 21/9/2025 đến ngày 26/9/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
2. Bùi Trí T1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/6/2006, tại xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn D, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Bùi Trí Đ và bà Nguyễn Thị L; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 21/9/2025 đến ngày 26/9/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
3. Nguyễn Văn T;Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18/10/2002, tại xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn F, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn B1 và bà Lê Thị N; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 21/9/2025 đến ngày 26/9/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
4. Nguyễn Hữu P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/09/2006, tại xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn D, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Hữu Đ1 và bà Nguyễn Thị L1; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 21/9/2025 đến ngày 26/9/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Tiến Q; sinh năm 1987; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trú tại: Thôn G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
2. Nguyễn Trọng T2; sinh năm 1987; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn Đ, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Mai Chí H, sinh năm 1999; Trú tại: Thôn B, xã V, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1960; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trú tại: Thôn G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
3. Ông Trần Văn T4, sinh năm 1953; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trú tại: Thôn G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
4. Ông Lê Thanh P1, sinh năm 1954; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
5. Chị Dư Thị Minh L2, sinh năm 1988; Nghề nghiệp: quản lý nhà hàng H4; Trú tại: Thôn A, xã M, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
6. Ông Đặng Văn S, sinh năm 1958; Trú tại: Thôn G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
7. Anh Võ Tuấn T5, sinh năm 1993; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
8. Ông Trần Hậu G, sinh năm 1972; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
9. Bà Đậu Thị M1, sinh năm 1955; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
10. Anh Lê Phú Q1, sinh năm 1993; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn Đ, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
11. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn T, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
12. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 2000; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn F, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
13. Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1997; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn F, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
14. Anh Lê Đình Tuấn A, sinh năm 2006; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn F, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
15. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 2004; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trú tại: Thôn F, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/9/2025, Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) mời bạn bè, người thân đến dự sinh nhật mình tại nhà hàng “Cầu N quán”. Trước đó, khoảng tháng 5/2025, T đã đặt mua 04 hộp pháo hoa nổ loại 49 quả trên mạng xã hội để sử dụng. Để chuẩn bị cho buổi tiệc T đến gặp anh Lê Tiến Q là chủ nhà hàng để đặt bàn, anh Q đề nghị tặng 01 bánh pháo hoa do Bộ Q2 sản xuất để sử dụng trong tiệc sinh nhật nhưng T từ chối và nói “pháo đã có bạn bè chuẩn bị” thì anh Q nhắc nhở “không được nổ Pháo lậu tại quán”. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T gặp Bùi Trí T1 mời T1 dự sinh nhật, đồng thời nhờ T1 cất giữ 04 hộp pháo hoa nổ mà T mua trước đó, T về lấy 04 hộp pháo hoa nổ mang đến nhà T1 dặn mang đến tiệc sinh nhật 02 hộp còn 02 hộp nhờ T1 cất để lần sau sử dụng.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Trí T1 mượn xe mô tô Wave Alpha biển kiểm soát 38M1-162.10 của anh Nguyễn Trọng T2 và mang theo 02 hộp pháo hoa nổ (01 hộp có vỏ bọc màu vàng, ghi chữ nước ngoài, 01 hộp không có vỏ bọc) đến đón Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) đi sinh nhật. Trên đường đi đón T (sinh năm 2002) T1 gặp Nguyễn Hữu P, P hỏi túi vải phía trước xe đựng gì thì T1 mở ra cho P xem pháo hoa nổ. Khi đến nhà Nguyễn Văn T (sinh năm 2002), T1 tiếp tục mở túi cho T (sinh năm 2002) xem số pháo đựng bên trong rồi chở T đến nhà hàng “Cầu N quán”. Tại nhà hàng, Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) nói T1 mang túi đựng pháo cất giấu tại khu vực để bia, nước ngọt trong quán.
Tiệc sinh nhật của Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) được anh Lê Tiến Q bố trí tại khu vực sân ngoài trời, nằm ngay phía dưới sân khấu tổ chức các buổi tiệc của quán, ngoài Nguyễn Văn T (sinh năm 2002), Bùi Trí T1 và Nguyễn Hữu P còn có sự tham gia của 11 người (gồm: Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn S1, Nguyễn Văn K, Trương Huy V, Lê Đình Tuấn A, Nguyễn Văn K, và 05 người khác không rõ tên tuổi). Đến khoảng 19 giờ 35 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T (sinh năm 2006), Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) và Bùi Trí T1 thống nhất lấy pháo ra sử dụng. T1 và T (sinh năm 2006) vào lấy 01 hộp pháo hoa (loại 49 quả, không có vỏ ngoài để lộ toàn bộ ống phóng bên trong) đưa đến dưới khu vực gần sân khấu, Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) nói với T (sinh năm 2006) “đưa đây anh đốt cho” rồi cầm hộp pháo ra cách khu vực bàn tiệc khoảng 5-6m, trong khuôn viên quán sử dụng bật lửa đốt. Sau khi đốt hộp pháo phát nổ trong thời gian khoảng hơn 01 phút, bắn lên cao trên trời, tạo ra âm thanh lớn và nhiều hiệu ứng màu sắc khác nhau. Ngay sau đó, anh Lê Tiến Q nhắc nhở Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) không được tiếp tục nổ pháo tại quán, T (sinh năm 2006) không nói gì và tiếp tục ngồi ăn cùng nhóm bạn.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Bùi Trí T1 nói với Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) lấy pháo ra nổ thì Nguyễn Hữu P nghe và cùng T1 vào quán lấy ra 01 hộp pháo (loại 49 quả, có vỏ bọc màu vàng, bên trên in nhiều chữ, ký tự nước ngoài), cả hai cùng xé lớp vỏ màu vàng bên ngoài hộp pháo, P cầm hộp pháo đưa đến khu vực cách vị trí nổ ban đầu khoảng 5m, hướng ra sau khu vực nhà vệ sinh của quán gọi Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) và Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) lại, sau đó P trực tiếp đốt pháo (thời gian nổ và âm thanh, ánh sáng do pháo tạo ra giống tương tự với lần đốt pháo thứ nhất). Cả nhóm ngồi ăn đến khoảng 21 giờ thì lần lượt ra về và đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì giải tán ra về hết.
Ngày 21/9/2025, anh Mai Chí H đến Công an xã T trình báo và cung cấp 02 đoạn Video ghi lại cảnh nổ pháo. Biết vụ việc đang được cơ quan Công an điều tra, Nguyễn Văn T (sinh năm 2006), Bùi Trí T1, Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) và Nguyễn Hữu P nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên xin đầu thú, khai báo toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Bùi Trí T1 tự nguyện giao nộp 02 hộp pháo do Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) nhờ cất trước đó.
Ngày 21/9/2025, UBND xã T có văn bản số 745/UBND đánh giá việc đốt pháo hoa nổ trên thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Nhằm đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn, đặc biệt là trong giai đoạn chuẩn bị tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh, UBND xã đề nghị Công an xã vào cuộc điều tra, xác minh, xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi đốt pháo hoa nổ trên.
Ngày 23/9/2025, Trung tâm y tế T7 có văn bản số 848/TTYT-TCHC phản ánh: Vụ việc trên xảy ra vào thời điểm tại Trung tâm y tế có nhiều nhân viên y tế và bệnh nhân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân nói chung và đội ngũ cán bộ nhân viên y tế nói riêng, đặc biệt là ảnh hưởng đến các bệnh nhân.
Ban cán sự thôn, Tổ An ninh trật tự cơ sở thôn G và các hộ dân, chủ quán, người dân sinh sống xung quanh đều cho rằng việc các đối tượng nổ pháo gây tiếng động lớn, tác động tiêu cực đến sinh hoạt bình thường của nhân dân, gây bất bình trong dư luận.
Bản Kết luận giám định số 1118/KL-KTHS ngày 25/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận:
+ 01 (một) khối hình chữ nhật, kích thước (17,7x17,7x10)cm, bên ngoài được dán giấy màu xanh, có nhiều họa tiết và chữ nước ngoài, bên trong khối hộp có 49 vật trụ hình tròn liên kết với nhau thành một khối gửi giám định là pháo có đầy đủ tính năng của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 1,8kg;
+ 01 (một) khối hình chữ nhật, kích thước (17,7x17,7x10)cm, bên ngoài được dán giấy màu vàng, có nhiều họa tiết và chữ nước ngoài, bên trong khối hộp có 49 vật trụ hình tròn liên kết với nhau thành một khối gửi giám định là pháo có đầy đủ tính năng của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 1,74kg.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS-KV1 ngày 03/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Văn Thành, Bùi Trí Trung, Nguyễn Văn T và Nguyễn Hữu P, về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) từ 08 – 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 - 20 tháng; Xử phạt Bùi Trí T1, Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) và Nguyễn Hữu P từ 06 - 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 - 16 tháng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 02 hộp pháo hoa loại 49 ống (đã lấy mẫu giám định 09 ống) được đựng trong một thùng caton đã được niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của Bùi Trí T1, đtv Phạm Minh H3, KSV Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn M2, có hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh H do Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng của Kho K19, Phòng Hậu cần - kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H; 01 khối hình hộp chữ nhật, màu nâu, kích thước (17,6x17,6x10)cm, bị vỡ khuyết 01 góc, kích thước (3,8x6,3x3,5)cm, ở giữa có 49 lỗ trống hình tròn sắp xếp đều nhau, gồm 07 hàng ngang, 07 hàng dọc, bên trong các lỗ trống có bám bụi bẩn màu đen (thu giữ được tại hiện trường) được niêm phong dán kín có chữ ký của ông Phạm Minh H3, Lê Tiến Q, Nguyễn Hữu P và Nguyễn Văn T đã được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Hà Tĩnh.
Căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự lưu giữ theo hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD chứa 03 đoạn Video liên quan đến vụ án.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đầy đủ chứng cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ khoảng 19 giờ 30 phút đến 20 giờ 00 phút ngày 20/9/2025, Nguyễn Văn T (sinh năm 2006), Bùi Trí T1, Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) và Nguyễn Hữu P đã có hành vi công khai đốt liên tiếp 02 lần pháo hoa nổ tại nhà hàng C quán, thuộc thôn G, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Các bị cáo có đầy đủ năng lực và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn T (sinh năm 2006), Bùi Trí T1, Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) và Nguyễn Hữu P đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, Bùi Trí T1 có bố đẻ là thương binh hạng 4/4, Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ cận nghèo là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, hành vi của các bị cáo công khai đốt pháo hoa nổ tại nơi công cộng, vào khung giờ đầu hôm khi nhiều người dân đang sinh hoạt và làm việc và trong bối cảnh địa phương đang tập trung ổn định tình hình chính trị phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh, gây tâm lý bất bình, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) là người khởi xướng việc nổ pháo, chuẩn bị pháo và cùng với các bị cáo thực hành việc nổ pháo nên phải chịu mức án cao hơn so với đồng bọn. Bùi Trí T1 là người giúp Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) mang pháo đến nhà hàng và cùng với Nguyễn Văn T (sinh năm 2006), Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) và Nguyễn Hữu P thực hành việc nổ pháo, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng. Tuy nhiên, xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bà nội của Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, Bùi Trí T1 bố là thương binh, cố ngoại là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục.
Xét luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, về mức án là phù hợp.
Trong vụ án này, ngoài 4 bị cáo còn có 11 người khác cùng tham gia tiệc sinh nhật của T. Tuy nhiên, những người này được mời đến, không biết T chuẩn bị pháo hoa nổ và không có lời nói, hành vi giúp sức việc nổ pháo nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý là phù hợp.
02 hộp pháo đã sử dụng tại nhà hàng C quán tối ngày 20/9/2025 là pháo hoa nổ, loại 49 quả, trong đó 01 hộp có đặc điểm giống với hộp pháo được dán giấy màu vàng thu được từ Bùi Trí T1; hộp còn lại do không có vỏ bọc nên không nhận dạng được. 02 hộp pháo này đã sử dụng, không thu giữ được, không có mẫu để trưng cầu giám định xác định được loại pháo, cân nặng. Số pháo thu giữ được còn lại là pháo nổ, có khối lượng 3,54kg, không đủ cấu thành tội Tàng trữ hàng cấm nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đến Công an xã T để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) và Bùi Trí T1 là phù hợp.
Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) sử dụng điện thoại đăng nhập mạng xã hội đặt mua pháo hoa nổ của một người đàn ông (không rõ lai lịch), T đã xóa tin nhắn và không nhớ tài khoản, điện thoại hư hỏng không thu giữ được nên không có căn cứ xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của đối tượng bán pháo cho T.
Anh Lê Tiến Q là chủ nhà hàng nơi các bị cáo sử dụng pháo hoa nổ, anh Nguyễn Trọng T2 cho Bùi Trí T1 sử dụng xe vận chuyển pháo đến tiệc sinh nhật. Tuy nhiên, anh T2 không biết T1 mượn xe để chở pháo, anh Q không biết các bị cáo cất giấu pháo hoa nổ trong khu vực quán và ngay từ đầu anh Q đã không cho nổ pháo trái phép tại nhà hàng, sau khi các đối tượng nổ pháo lần thứ nhất anh Q đã nhắc nhở và yêu cầu không được tiếp tục nổ pháo tại quán, sau đó anh Q đã phối hợp với cơ quan Công an cung cấp các thông tin có giá trị phục vụ điều tra, xử lý vụ án. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với anh Lê Tiến Q, anh Nguyễn Trọng T2 là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
02 hộp pháo hoa loại 49 ống (đã lấy mẫu giám định 09 ống) do Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng của Kho K19, Phòng Hậu cần - kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H; 01 khối hình hộp chữ nhật, màu nâu, kích thước (17,6x17,6x10)cm, bị vỡ khuyết 01 góc, kích thước (3,8x6,3x3,5)cm, ở giữa có 49 lỗ trống hình tròn sắp xếp đều nhau, gồm 07 hàng ngang, 07 hàng dọc, bên trong các lỗ trống có bám bụi bẩn màu đen (thu giữ được tại hiện trường) đã được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Hà Tĩnh là công cụ, phương tiện phạm tội, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy.
Bản cáo trạng thể hiện kèm theo hồ sơ vụ án là 02 đĩa DVD có chứa 03 đoạn video liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện có 01 đĩa CD-R nhãn hiệu NEO bên trong chứa 01 file dữ liệu dạng DHAV có tên “camera Cau N1 quan” và 01 USB màu đen dung lượng 16G chứa 02 đoạn video, trong đó 01 video có dung lượng 4,601KB và 01 đoạn vi deo có dung lượng 2,422KB liên quan đến vụ án theo khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Bị cáo Nguyễn Văn T (sinh năm 2006) thuộc hộ cận nghèo nên được miễm án phí hình sự sơ thẩm. Bùi Trí T1, Nguyễn Văn T (sinh năm 2002) và Nguyễn Hữu P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự,
Tuyên bố: Nguyễn Văn T, Bùi Trí T1, Nguyễn Văn T và Nguyễn Hữu P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Nguyễn Văn T (sinh ngày 06/8/2006) 08 (T6) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Bùi Trí T1 07 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Nguyễn Văn T (sinh ngày 18/10/2002) 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Nguyễn Hữu P 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao Nguyễn Văn T(sinh ngày 06/8/2006), Bùi Trí T1, Nguyễn Văn T(sinh ngày 18/10/2002) và Nguyễn Hữu P cho UBND xã T, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.
+ Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 02 hộp pháo hoa loại 49 ống (đã lấy mẫu giám định 09 ống) được đựng trong một thùng caton đã được niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của Bùi Trí T1, đtv Phạm Minh H3, KSV Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn M2, có hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh H do Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng của Kho K19, Phòng Hậu cần - kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H; 01 khối hình hộp chữ nhật, màu nâu, kích thước (17,6x17,6x10)cm, bị vỡ khuyết 01 góc, kích thước (3,8x6,3x3,5)cm, ở giữa có 49 lỗ trống hình tròn sắp xếp đều nhau, gồm 07 hàng ngang, 07 hàng dọc, bên trong các lỗ trống có bám bụi bẩn màu đen (thu giữ được tại hiện trường) được niêm phong dán kín có chữ ký của ông Phạm Minh H3, Lê Tiến Q, Nguyễn Hữu P và Nguyễn Văn T đã được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Hà Tĩnh.
Căn cứ khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD-R nhãn hiệu NEO bên trong chứa 01 file dữ liệu dạng DHAV có tên “camera Cau N1 quan” và 01 USB màu đen dung lượng 16G chứa 02 đoạn video, trong đó 01 video có dung lượng 4,601KB và 01 đoạn vi deo có dung lượng 2,422KB liên quan đến vụ án.
+ Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Nguyễn Văn T (sinh năm 2006). Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Văn T (sinh năm 2002), Bùi Trí T1 và Nguyễn Hữu P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
+ Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSNDKV1–Hà Tĩnh ; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Công an tỉnh Hà Tĩnh; - T.H.A.P.T; - Phòng Hậu cần- kỹ thuật BCHQS tỉnh Hà Tĩnh; - T.H.A.D.S tỉnh Hà Tĩnh; - UBND xã Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo, NCQLNVLQ; - Lưu: HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Sơn |