vanban.org

Bản án 09/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 10/03/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lực kể từ ngày tuyên án. VKSND tỉnh Vĩnh Long; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo đặng Thanh P - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ th…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 304 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2026/HS-PT
Ngày 27 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lực

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thành Đăng

Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Đức Hoài Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 217/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Thanh P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

Bị cáo có kháng cáo: Đặng Thanh P, sinh ngày 01/01/1976.

Nơi cư trú: ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn E (chết) và bà Nguyễn Thị R; có vợ tên Mai Thị P1 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người tham gia tố tụng khác nhưng không có liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 01/5/2025, sau khi nhặt được 01 khẩu súng và 02 hộp có chứa 112 viên đạn tại nhà trọ ở xã T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đặng Thanh P đem khẩu súng và số đạn về nơi cư trú tại ấp P, xã P để cất giấu, khẩu súng bị cáo giấu trong đống rác trước nhà, còn 02 cái hộp có chứa 112 viên đạn bị cáo cất giấu trong túi đựng quần áo gửi tại nhà ông Đặng Văn Đ ở cùng ấp.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/5/2025, tại đường gần quán cà phê của anh Lê Tuấn C thuộc ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo chạy xe mô tô nẹt pô gây ồn ào nên anh Trần Thế H đang nhậu ở quán nhậu gần đó có lên tiếng chửi. Bị cáo P đi về nhà lấy khẩu súng đến quán cà phê của anh C tìm anh H. Thấy bị cáo cầm súng, anh H gọi điện thoại cho anh Nguyễn Minh T và báo Công an xã P. Khoảng 05 phút sau, anh T điều khiển xe mô tô chở anh Đinh Bá T1 cầm theo 01 cây rựa chạy đến. Lúc này khoảng 20 giờ 45 phút, bị cáo cầm súng đứng trong quán của anh C, lên đạn, bóp cò bắn một phát hướng ra bến phà xã P qua xã T, anh T đánh bị cáo 01 cái vào mặt làm bị cáo té xuống đất, anh T1 tiếp tục đạp 01 cái vào người bị cáo, anh T lấy được cây súng của bị cáo và ném xuống đất, sau đó sự việc kết thúc.

Vật chứng thu giữ:

- 01 khẩu súng nén hơi làm bằng kim loại và nhựa, sơn màu đen, trên thân súng có ghi dòng chữ “Cricket Z-1000 Fxairguns made in Sweden”, có chiều dài 105cm, thước ngắm dài 50,2cm, bá súng rộng 13,2cm, đường kính đầu súng 0,9cm.

- 02 hộp hình tròn có đường kính 06cm, cao 03cm, bằng nhựa, màu xanh, bên trong có chứa 112 viên đạn mũi dù, có đặc điểm như nhau, làm bằng kim loại, màu xám, có chiều dài 0,7cm, chiều rộng 0,5cm.

- 01 cây rựa cán ốp bằng gỗ bên trong kim loại dài 43,1cm, lưỡi cây rựa dài 31,9cm bằng kim loại, chiều hẹp nhất của lưỡi rựa rộng 03cm, chiều rộng nhất của lưỡi rựa 07cm, có một cạnh sắc bén, một cạnh không sắc bén, tổng chiều dài cây rựa là 75cm.

Kết luận giám định số 263/KL-KTHS ngày 11/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu gửi giám định là súng, là súng nén hơi, là vũ khí thuộc phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” của Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1, hiện tại các bộ phận của súng có đủ và sử dụng bắn được. Mẫu gửi giám định là đạn, là đạn mũi dù cỡ 5,5mm, hiện tại có thể sử dụng bắn được, đạn thuộc phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” của Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C1, sử dụng bắn được cho các loại súng nén hơi, súng nén khí sử dụng bình nén hơi, nén khí.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thanh P 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, về án phí, về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/11/2025, bị cáo Đặng Thanh P kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Thanh P khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại cấp sơ thẩm và thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt và điều luật áp dụng.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo như nội dung đơn kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo kháng cáo đúng quy định tại các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, nên vụ án được xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Thanh P khai nhận: sau khi nhặt được 01 khẩu súng nén hơi và 02 hộp chứa 112 viên đạn tại nhà trọ ở xã T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã mang về nơi cư trú để cất giấu. Đến tối ngày 14/5/2025, do mâu thuẫn phát sinh, bị cáo đã lấy khẩu súng mang đến quán cà phê của anh Lê Tuấn C, lên đạn và bắn 01 phát súng ra khu vực bến phà xã P. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo Đặng Thanh P phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm”.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: khi nhặt được khẩu súng nén hơi và 02 hộp chứa 112 viên đạn được giám định là vũ khí quân dụng, đây là loại vũ khí do Nhà nước quản lý, lẽ ra bị cáo phải giao nộp cho cơ quan chức năng nhưng lại tàng trữ, khi có mâu thuẫn thì đem ra sử dụng, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, đe dọa tính mạng, sức khỏe của người khác. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội cần phải tuyên cho bị cáo mức án thật nghiêm khắc thì mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, do bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi phạm tội đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc, áp dụng đầy đủ các tình tiết này cho bị cáo, mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Ý kiến của của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo của bị cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Thanh P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

- Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đặng Thanh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 22/2025/HSST-LCCT, ngày 03/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đến khi bị cáo đi chấp hành án.

- Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ