vanban.org

Bản án 09/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công L.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Công L được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 10/6/2008 cho ông Nguyễn Công L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Bà Nguyễn Thị Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con do ông L không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Công L - Nguyễn Thị Kim T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 03 - 3 - 2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Truyền.

2. Bà Bùi Thị Út.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 197/2025/TLST-HNGĐ ngày 28/10/2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2026/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công L, sinh năm 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Công L trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Kim T tự nguyện tìm hiểu và quen biết nhau, hai bên không tổ chức đám cưới hỏi, chung sống cùng nhau từ năm 2008. Sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã P, tỉnh Khánh Hòa) năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng nhau ở nhiều nơi do đi làm thuê. Đến năm 2015 thì gia đình ông về tỉnh Ninh Thuận (nay là tỉnh Khánh Hòa) sinh sống.

Sau khi kết hôn vợ chồng ông chung sống không có hạnh phúc do vấn đề kinh tế, vợ chồng sống cách xa nhau để đi làm ăn, không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn kéo dài từ năm 2009 cho đến năm 2020 thì ông, bà không còn sống chung. Đến nay ông và bà T không còn liên hệ gì với nhau, cũng không ai có ý định hàn gắn quay lại. Bà T chỉ thỉnh thoảng liên hệ gặp gỡ với con gái là cháu Nguyễn Thị Bích N. Do thời gian không sống chung cùng nhau kéo dài, nay ông không còn tình cảm với bà T, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 10/6/2008. Ly hôn, ông trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu N, không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con. Vì từ khi ông và bà T không còn sống chung đến nay thì cháu Nguyên do ông trực tiếp nuôi dưỡng. Ông làm nghề lái xe taxi tư nhân thu nhập hàng tháng khoảng 15.000.000 đồng nên đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà T vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Nguyễn Công L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn có nơi cư trú ở phường Đ, tỉnh Khánh Hòa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án.

Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Ngày 07/01/2026, nguyên đơn ông L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là bà T nhưng bà T vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông L và bà T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã P, tỉnh Khánh Hòa) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 144 ngày 27/9/2012 nên là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông L trình bày: Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, thường xuyên sống cách xa nhau, không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Từ năm 2020 đến nay ông và bà T không còn sống chung, không liên hệ với nhau, không ai có ý định hàn gắn quay lại.

Tại biên bản xác minh, Tổ trưởng tổ dân phố N, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa xác nhận ông L và bà T không còn sống chung với nhau từ năm 2020 cho đến nay, điều đó thể hiện việc mâu thuẫn vợ chồng giữa ông L và bà T là có thật. Đối với bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng bà T không đến Tòa án để làm việc, có thái độ bỏ mặc không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông L và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông L.

Về con chung: Xét yêu cầu được nuôi con của ông L, thấy rằng: Từ khi ông và bà T không còn sống chung thì cháu Nguyễn Thị Bích Nguyên D ông L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu N có nguyện vọng sống với ông. Ông L làm nghề lái xe thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng nên đủ điều kiện để nuôi con. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu N cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông L không yêu cầu bà T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: Ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Ông L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công L.

1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Công L được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 10/6/2008 cho ông Nguyễn Công L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Bà Nguyễn Thị Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con do ông L không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Công L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002672 ngày 22/10/2025 của của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Ông L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Cỡ chữ