- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Hồng Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Bùi Hồng Q.
- Căn cứ chính? Luật Hôn và nhân gia đình; luật Tố tụng; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2026/HNGĐ-ST Ngày 17 tháng 3 năm 2026 V/v: Xác định cha cho con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kiều Quang Dự
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Nghiệp và Ông: Nguyễn Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 368A/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2025, về việc: Xác đinh cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 10/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/3/2026; giữa:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Hồng Q, sinh ngày 08/10/1991- Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm Sào B, xã Hợp K, tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Anh Lê Anh V, sinh ngày 21/12/1991 - Vắng mặt
Nơi cư trú: 73 Hàng G, phường Hoàn K, TP Hà Nội
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh: Trần Văn Tr, sinh năm 1987 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Số 3x, Tổ 1, phường Hòa B, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/6/2025 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Hồng Q trình bày và yêu cầu như sau:
- Tôi và anh Trần Văn Tr tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2015 trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, năm 2019 chúng tôi sống ly thân mỗi người một nơi. Sau đó tôi và anh Trần Văn Tr thuận tình ly hôn, theo Quyết định số 103/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Trước khi ly hôn với anh Tr năm 2023 tôi có quan hệ tình cảm với anh Lê Anh V, sau đó tôi mang thai đến ngày 06/02/2024 tôi sinh con, tên dự kiến là Lê Cát Linh H, ngày 29/02/2024 tôi có làm xét nghiệm ADN tại Công ty cổ phần công nghệ Y tế VIETCARE kết quả anh Lê Anh V có quan hệ huyết thống Cha - Con với người có tên dự kiến Lê Cát Linh H, độ tin cậy > 99,9999%. Vậy tôi đề nghị Tòa án xác định anh Lê Anh Vũ là cha của cháu Lê Cát Linh H.
- Anh Lê Anh V trình bày: Đầu năm 2023, tôi có quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với chị Bùi Hồng Q, khi đó chị Q vẫn có chồng hợp pháp là anh Trần Văn Tr, sau thời gian chúng tôi có quan hệ tình cảm, chị Q mang thai và sinh con là cháu Lê Cát Linh H, vào ngày 06/02/2024. Sau khi sinh con chị Q tiến hành làm xét nghiệm AND giữa tôi và cháu Lê Cát Linh H, có quan hệ huyết thống Cha - Con. Từ kết quả giám định tôi không có ý kiến phản đối, tuy nhiên tôi cũng không thừa nhận mình là cha của cháu bé, vậy đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
- Anh Trần Văn Tr trình bày: Tôi và chị Bùi Hồng Q, kết hôn năm 2015, sau đó vợ chồng mâu thuẫn đến năm 2019 chúng tôi sống ly thân, đến ngày 23/5/2024 chúng tôi ly hôn. Trong thời gian tôi và chị Q sống ly thân, chúng tôi không liên lạc gì với nhau, trong khi chúng tôi chưa ly hôn chị Q có sinh cháu Lê Cát Linh H, sinh ngày 06/02/2024 cháu bé không phải là con chung của tôi và chị Q. Việc chị Q yêu cầu Tòa án xác định anh Lê Anh V là cha của cháu bé, tôi không có ý kiến gì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục Tố tụng: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã đảm bảo được thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71, 72, 73; của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của BLTTDS; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện xác định cha cho con của chị Bùi Hồng Q và miễn nộp lệ phí việc dân sự cho chị Bùi Hồng Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ áp dụng luật Tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân gia đình xác định cha cho con, nguyên đơn và bị đơn có văn bản lựa chon Tòa án nơi nguyên đơn cư trú giải quyết vụ việc, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Phú Thọ, theo quy định tại khoản 4 Điều 28, Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, do các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ áp dụng luật nội dung: Yêu cầu xác định cha cho con, nên áp dụng Luật Hôn và nhân gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.
Nội dung vụ án:
+ Đối với yêu cầu xác định cha cho con của chị Bùi Hồng Q: Chị Q và anh Trần Văn Tr, kết hôn đến năm 2015 trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, đến năm 2019 anh chị sống ly thân, không liên lạc gì với nhau, đến ngày 23/5/2024 chị và anh Trần Văn Tr ly hôn. Trong thời gian chị và anh Tr vẫn là vợ chồng hợp pháp năm 2023 chị có quan hệ tình cảm với anh Lê Anh V, sau đó có thai đến ngày 06/02/2024 sinh con đặt tên dự kiến là Lê Cát Linh H, ngày 29/02/2024 chị làm xét nghiệm ADN tại Công ty cổ phần công nghệ Y tế VIETCARE kết quả anh Lê Anh V có quan hệ huyết thống Cha - Con với người có tên dự kiến Lê Cát Linh H, độ tin cậy > 99,9999%. Chị đề nghị Tòa án xác định anh Lê Anh V là cha của cháu Lê Cát Linh H.
+ Đối với ý kiến anh Lê Anh V: Xác nhận anh có quan hệ tình cảm với chị Bùi Hồng Q, khi đó chị Q vẫn có chồng hợp pháp là anh Tr, sau thời gian yêu đương, chị Q mang thai và sinh con là cháu Lê Cát Linh H, ngày 06/02/2024. Sau khi sinh con chị Q tiến hành làm xét nghiệm AND giữa anh và cháu Lê Cát Linh H, sinh ngày 06/02/2024, có quan hệ huyết thống Cha – Con, anh không phản đối cũng không thừa nhận mình là cha của cháu bé. Căn cứ kết quả xét nghiệm AND, việc anh không thừa nhận mình là cha của cháu bé là không có căn cứ.
+ Đối với ý kiến anh Trần Văn Tr: Xác nhận anh và chị Bùi Hồng Q, kết hôn năm 2015, sau đó vợ chồng mâu thuẫn đến năm 2019 anh chị sống ly thân, đến ngày 23/5/2024 anh chị ly hôn. Trong thời gian chưa ly hôn chị Q có sinh cháu Lê Cát Linh H, sinh ngày 06/02/2024, anh khẳng định cháu bé không phải là con chung giữa anh và chị Q, chị Q cũng khẳng định anh không phải là cha của cháu Lê Cát Linh H, sinh ngày 06/02/2024 là có căn cứ.
Tại kết quả xét nghiệm ADN số: 3939.VCJ/24/AND ngày 29/02/2024 của Công ty phần công nghệ Y tế VIETCARE kết quả anh Lê Anh V có quan hệ huyết thống Cha - Con với người có tên dự kiến Lê Cát Linh H, độ tin cậy > 99,9999%. Căn cứ kết quả xét nghiệm AND và lời khai của các đương sự. Xét thấy chị Bùi Hồng Q yêu cầu Tòa án xác định anh Lê Anh V là cha của cháu Lê Cát Linh H (tên dự kiến), sinh ngày 06/02/2024 là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Bùi Hồng Q không phải nộp tiền án phí Hôn nhân nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 4 Điều 28; Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 271; Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Bùi Hồng Q.
Xác định anh Lê Anh V, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1991; Nơi cư trú: 7x Hàng G, phường Hoàn K, thành phố Hà Nội là cha đẻ của cháu Lê Cát Linh H, sinh ngày 06/02/2024 (Theo giấy chứng sinh số 322960 quyển số 300000 do Bệnh viện phụ sản Hà Nội cấp ngày 06/02/2024).
2. Về án phí: Chị Bùi Hồng Q được miễn nộp tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND Khu vực 13 – Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND xã Hợp Kim, tỉnh Phú Thọ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Quang Dự |