vanban.org

Bản án 09/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Như H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Tiếp tục áp dụng biện pháp C1 đi khỏi nơi cư trú với bị cáo Nguyễn Như H 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2025).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Như H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG
Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày 16 -9- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Minh Tuấn.

Ông Lăng Đức Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh Huệ, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Lù Văn Đồng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/HSST- QĐ ngày 08/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang đối với bị cáo:

Nguyễn Như H, sinh ngày 06/ 01/1983 tại huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là xã H, tỉnh Hưng Yên). Nơi cư trú: Tổ C, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn C, xã B, tỉnh Tuyên Quang); Số CCCD 033083010776, cấp ngày 04/12/2022 tại Cục C2 về TTXH – Bộ C3; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Như T và bà Nguyễn Thị C; vợ là Hoàng Thị H1, có 02 con: con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/7/2008, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 147, bằng hình thức phạt tiền, số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong ngày 10/7/2008. Tại Bản án số 39/2016/HSST ngày 19/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 04 (bốn) tháng tù về tội Đánh bạc, hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2016, H chấp hành xong (đã xóa án tích). Ngày 28/8/2019, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 07/2019/QĐ-TA, thời hạn áp dụng là 18 tháng (mười tám) tại Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần, cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang, đã chấp hành xong ngày 15/10/2020. Ngày 20/10/2023, Công an thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00248, bằng hình thức phạt tiền, số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) về hành vi Gây mất trật tự công cộng, đã chấp hành xong ngày 30/11/2023. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.

- Bị hại: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn A, xã B, tỉnh Tuyên Quang), có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989, vắng mặt.

+ Anh Trần Xuân D, sinh năm 1979, vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Minh H2, sinh năm 1982, vắng mặt

+ Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 01/02/2025, Nguyễn Như H, sinh năm 1983, trú tại tổ C, thị trấn việt Q, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn C, xã B, tỉnh Tuyên Quang) đi đến nhà Nguyễn Văn T1, sinh năm 1988, trú tại tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn A, xã B, tỉnh Tuyên Quang) thì thấy T1 đang ngồi chơi, hát karaoke cùng Hoàng Văn Đ, sinh năm 1989, Trần Xuân D, sinh năm 1979 cùng trú tại tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn A, xã B, tỉnh Tuyên Quang), Nguyễn Minh H2, sinh năm 1982 và Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985 đều trú tại tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang (nay là thôn A, xã B, tỉnh Tuyên Quang). H ngồi chơi, hát karaoke tại phòng khách nhà T1 được khoảng 15 phút thì H đi ra đóng cửa chính để không gây ảnh hưởng đến hàng xóm. Thấy vậy T1 nói với Hoàng Văn Đ “đi ra mở cửa đi, đang hát đóng cửa vào làm gì”, rồi T1 đi xuống bếp chuẩn bị đồ ăn uống. Đ ngồi ở ghế phía đối diện H, nói với H “đang hát đóng cửa vào làm gì”. Do H đã uống rượu trước đó, khi nghe Đ nói vậy, H bực tức, quan sát xung quanh thấy trên bàn uống nước có 01 chiếc cốc thủy tinh (màu trắng, cao khoảng 10cm, miệng cốc tròn rộng khoảng 15cm) đang đựng hạt hướng dương, H dùng tay trái cầm chiếc cốc thủy tinh đi đến gần vị trí Đ và đánh một phát về phía người Đ. Đ đứng dậy giơ tay phải lên đỡ thì bị cốc thủy tinh đập trúng vào cổ tay. Đ nhảy ra khỏi ghế sang phía bên tay phải của Đ để chạy ra ngoài thì bị H dùng tay phải túm vào tay áo bên trái phía sau của Đ kéo lại. H tiếp tục dùng tay trái đang cầm cốc thủy tinh giơ lên đập một phát hướng chếch chéo từ trên xuống, từ trái sang phải, cốc thủy tinh trúng vào đỉnh đầu phía bên trái của Đ gây thương tích, chảy máu. Thấy vậy T2, T1 và D chạy đến can ngăn, H đặt chiếc cốc thủy tinh trên mặt bàn uống nước, sau đó cốc bị rơi xuống nền nhà vỡ thành nhiều mảnh (T1 quét dọn các mảnh cốc thủy tinh và bỏ vào thùng rác cách nhà khoảng 40m). Đ bị thương tích được đưa đi sơ cứu, sau đó điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện B từ ngày 05/02/2025 đến ngày 07/02/2025, điều trị tại Bệnh viện H3 - Hà Nội từ ngày 23/02/2025 đến ngày 28/02/2025 và được chuyển về Bệnh viện Đ điều trị đến ngày 05/3/2025 thì ra viện.

Ngày 09/04/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, ra Quyết định trưng cầu giám định số: 771/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh H giám định Tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe do thương tích gây nên; xác định cơ chế gây ra thương tích và vật gây thương tích trên cơ thể của Hoàng Văn Đ.

Tại Bản kết luận giám định số: 23/KLTTCT-TTPY ngày 15/4/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh H, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Văn Đ là: 29% (hai mươi chín phần trăm) tại thời điểm giám định. Về cơ chế hình thành thương tích: (1) Sẹo vùng thái dương - đỉnh trái: Là thương tích do vật tày tác động rất mạnh, trên nền xương cứng + phẫu thuật điều trị vỡ lún xương đỉnh trái, máu tụ dưới màng cứng gây nên; (2) Thương tích vỡ lún xương đỉnh trái, máu tụ dưới màng cứng vùng đỉnh trái: Do vật tày tác động một lực rất mạnh, hướng từ chếch chéo từ trên xuống, từ trái sang phải gây nên.

Với hành vi trên, tại Cáo trạng số 18/CT-VKSKV5 ngày 16/7/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang đã truy tố Nguyễn Như H về tội “Cố ý gây thương tích", theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134, dẫn chiếu điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Như H về tội “Cố ý gây thương tích" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, dẫn chiếu điểm a, i khoản 1 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Như H từ từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án hình phạt tù. Về phần dân sự: bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong về phần bồi thường dân sự nên đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng là chiếc cốc thủy tinh do Nguyễn Như H sử dụng để gây thương tích cho Đ nhưng không có kết quả nên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không xem xét.Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Như H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên và lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng là anh Nguyễn Văn T1 Xuân D, Nguyễn Minh H2, Nguyễn Văn T2 nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ, lời khai đầy đủ, rõ ràng việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Như H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang, bị cáo Nguyễn Như H khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 01/02/2025, tại nhà của Nguyễn Văn T1, bị cáo Nguyễn Như H thực hiện hành vi dùng 01 (một) chiếc cốc thủy tinh (màu trắng, cao khoảng 10cm, miệng cốc tròn rộng khoảng 15cm) đập 01 (một) phát vào đỉnh đầu phía bên trái của bị hại Hoàng Văn Đ gây thương tích 29% (hai mươi chín phần trăm). Bị cáo Nguyễn Như H sử dụng hung khí nguy hiểm, gây thương tích cho bị hại Hoàng Văn Đ có tính chất côn đồ, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời nhận tội tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu ban đầu của Công an thị trấn V, tài liệu xác định hiện trường, tài liệu, bản ảnh thực nghiệm điều tra, bản ảnh truy tìm vật chứng, tài liệu nhận dạng vật chứng; Kết luận giám định thương tích, lời khai những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để HĐXX kết luận bị cáo Nguyễn Như H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134, dẫn chiếu điểm a,i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015. Nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Tuyên Quang truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

...

i) Có tính chất côn đồ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

...

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”

[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Như H là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ của người khác được Bộ luật Hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hơn nữa trong giai đoạn điều tra và chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường xong cho bị hại với tống số tiền là 110.000.000 đ (Một trăm mười triệu đồng) và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu cụ thể: Ngày 10/7/2008, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 147, bằng hình thức phạt tiền, số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong ngày 10/7/2008. Tại Bản án số 39/2016/HSST ngày 19/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt 04 (bốn) tháng tù về tội Đánh bạc, hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2016, H chấp hành xong (đã xóa án tích). Ngày 28/8/2019, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 07/2019/QĐ-TA, thời hạn áp dụng là 18 tháng (mười tám) tại Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần, cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang, đã chấp hành xong ngày 15/10/2020. Ngày 20/10/2023, Công an thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00248, bằng hình thức phạt tiền, số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) về hành vi Gây mất trật tự công cộng, đã chấp hành xong ngày 30/11/2023. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một người công dân sống có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra và trước khi mở phiên tòa bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận xong về phần bồi thường dân sự nên bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng là chiếc cốc thủy tinh Nguyễn Như H sử dụng để gây thương tích cho Hoàng Văn Đ nhưng không có kết quả nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Từ những phân tích nêu trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án, đề nghị về tội danh, đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt và án phí đối với bị cáo là hoàn toàn có cơ sở và đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Như H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Tiếp tục áp dụng biện pháp C1 đi khỏi nơi cư trú với bị cáo Nguyễn Như H 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2025).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Như H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ