- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Công D - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Lu…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Công D phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:09/2025/HS-ST Ngày 20-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Niệm;
Bà Lê Thị Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Công D, sinh năm 1999 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã TL, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, nơi tạm trú: Số 1C/45, tổ 1, khu phố K, phường T, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công T1 (đã chết) và bà Lê Thị G; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Anh T2, sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/8/2024 đến nay. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có giấy phép lái xe sử dụng đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông đường bộ mà không cần phải thi sát hạch nên tháng 7/2021, bị cáo Trương Công D sử dụng tài khoản zalo của mình liên hệ với tài khoản zalo có tên “T2" (không rõ nhân thân lai lịch) để thuê T2 làm giả cho bị cáo D một giấy phép lái xe hạng A1. Sau đó, bị cáo D cung cấp thông tin cá nhân của mình cho T2 để thuê T2 làm giả một giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 380212007146 mang tên của bị cáo D với số tiền là: 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Khoảng 01 tháng sau (không rõ thời gian cụ thể), bị cáo D nhận được giấy phép lái xe giả từ T2, bị cáo D trả tiền cho T2 rồi sử dụng giấy phép lái xe mô tô hạng A1 trên để tham gia giao thông đường bộ. Đến khoảng 20 giờ 35 phút, ngày 30/8/2022, khi bị cáo D điều khiển xe mô tô biển số 67L2-281.83 đi trên đường Trần Quang Diệu, thuộc thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thì bị Tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông-Trật tự cơ động Công an huyện Phú Giáo yêu cầu dừng xe kiểm tra do bị cáo D điều khiển xe vi phạm lỗi điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm. Lúc này, bị cáo D xuất trình giấy phép lái xe giả mà bị cáo D đặt mua trên mạng cho lực lượng chức năng làm việc. Đội Cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm đối với bị cáo D và tạm giữ giấy phép lái xe để làm thủ tục xử phạt hành chính. Đội Cảnh sát giao thông phát hiện giấy phép lái xe của bị cáo D có dấu hiệu nghi ngờ giấy tờ giả nên chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo giải quyết theo thẩm quyền. Qua làm việc, bị cáo D thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Kết luận giám định số 2800/KL-KTHS (TL) ngày 19/6/2024 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Một (01) “Giấy phép lái xe" (PET) số 380212007146, hạng A1, họ tên “Trương Công D", sinh ngày 17/6/1999, nơi cư trú: xã TL, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, đề ngày 15/11/2021 (ký hiệu A) là giả.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:
Một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 380212007146, hạng A1, họ tên “Trương Công D", sinh ngày 17/6/1999, nơi cư trú: xã TL, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, đề ngày 15/11/2021.
Bản Cáo trạng số 145/CT-VKSPG ngày 11/11/2024, Viện Kiểm sát nhân huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương truy tố Trương Công D về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung v n giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Công D về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo Trương Công D số tiền từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị lưu cùng hồ sơ vụ án một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 380212007146, hạng A1, họ tên “Trương Công D", sinh ngày 17/6/1999, nơi cư trú: xã TL, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, đề ngày 15/11/2021.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Công D thừa nhận nội dung cáo trạng đã truy tố, thống nhất với tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo Trương Công D: Bị cáo không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Công D khai nhận: Để có giấy phép lái xe sử dụng đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông đường bộ, khoảng tháng 7/2021, bị cáo Trương Công D liên hệ với tài khoản zalo có tên “T2" (không rõ nhân thân lai lịch) để thuê T2 làm giả cho mình một giấy phép lái xe hạng Al số 380212007146, họ tên “Trương Công D", sinh ngày 17/6/1999, nơi cư trú: xã TL, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, đề ngày 15/11/2021. khoảng 20 giờ 35 phút, ngày 30/8/2022, khi bị cáo D điều khiển xe mô tô biển số 67L2-281.83 đi trên đường Trần Quang Diệu, thuộc thị trấn Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, bị cáo D có hành vi sử dụng Giấy phép lái xe giả để xuất trình cho Đội Cảnh sát giao thông-Trật tự cơ động Công an huyện Phú Giáo khi bị Đội Cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm hành chính với lỗi vi phạm điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Kết luận giám định số 2800/KL-KTHS (TL) ngày 19/6/2024 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo Trương Công D đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Nên, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trương Công D về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét hành vi của bị cáo sử dụng giấy phép lái xe giả đặt mua qua zalo từ một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan nhà nước, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính. Vi phạm chủ trương, chính sách an toàn giao thông Nhà nước đề ra. Xét động cơ, mục đích phạm tội chỉ vì để có giấy phép lái xe đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông mà không cần phải thi sát hạch mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Do đó, HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với đối tượng tên T2 (không rõ nhân thân lai lịch) là người làm và giao giấy phép lái xe giả cho bị cáo D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo tiếp tục điều tra xử lý sau.
Về tài liệu của vụ án: Một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 380212007146, hạng A1, họ tên “Trương Công D", sinh ngày 17/6/1999, nơi cư trú: xã TL, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, đề ngày 15/11/2021. Xét, đây là tài liệu thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, HĐXX quyết định lưu cùng hồ sơ vụ án.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Công D phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Công D số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Phú Giáo; - Cơ quan CSĐT Công an H. Phú Giáo; - Đội Cảnh sát THAHS&HTTP Công an huyện Phú Giáo; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; - UBND phường Tân Phước Khánh, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mạnh |