- Tranh chấp gì? án hình sự — "Long Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 05 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đình Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải, bà Nguyễn Thị Lan;
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lường – Là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Phạm Trần Duy Quyền – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2025/TLST-HS, ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Long Văn S, sinh năm 1993, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Long Thanh V, sinh năm 1966; Con bà: Triệu Thị N, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ là Nông Thị H, sinh năm 1993, bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 cho đến nay. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Vương Nam T, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn PT1, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Long Văn S là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 11/12/2024, sau khi làm rẫy tại thôn 7, xã ED, thị xã B, đang chuẩn bị đi về thì S gặp 01 người thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) đang đứng gần rẫy. Qua nói chuyện, biết người thanh niên này có bán ma túy loại Heroin nên S đã mua của người này 01 gói Heroin với giá 500.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được ma túy S đi đến khu vực rẫy gần đó lấy một ít ra để sử dụng, số ma tuý còn lại S cất giấu trong túi quần rồi đi về nhà. Đến khoảng 09 giờ ngày 16/12/2024, khi S đang đứng trước cửa nhà tại Thôn B, xã E, huyện K thì bị lực lượng Công an huyện K phát hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần phía bên trái S đang mặc trên người có 01 gói giấy bạc bên trong có chứa các chất bột màu trắng (S khai nhận là ma túy, loại Heroin); Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật theo quy định.
Kết quả xét nghiệm vi sinh do Trung tâm y tế huyện K tiến hành vào ngày 16/12/2024, xác định: “Long Văn S dương tính (+) với chất ma tuý, loại Morphun/Heroin”
Tại bản kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2527gam, loại: Heroine (Heroin), có tên gọi khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,1988 gam.
Tại Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc truy tố bị cáo Long Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Long Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Long Văn S từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,1988 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định.
Bị cáo không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất vì bị cáo đã ăn năn hối hối hận về hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định: Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và những chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 00 ngày 11/12/2024 tại thôn 7, xã ED, thị xã B, Long Văn S đã mua của 01 thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) 01 gói ma tuý loại Heroin với giá 500.000 đồng để sử dụng cho bản thân, sau khi mua được ma túy Sơn lấy một ít ra sử dụng, số còn lại cất giấu trong túi quần. Đến khoảng 09 giờ ngày 16/12/2024, khi S đang đứng trước cửa nhà tại Thôn B, xã E, huyện K thì bị lực lượng Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang, khám xét trong túi quần bên trái S mặc phát hiện 01 túi ma túy có khối lượng 0,2527 gam loại Heroin.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước về các chất ma túy và gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức được rằng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Long Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết của vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về vật chứng vụ án: Đối với 0,1988 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, buộc bị cáo Long Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Long Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Long Văn S 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/12/2024.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,1988 gam ma túy loại Heroin còn lại sau giám định.
(Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K)
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo Long Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Công an tỉnh Đắk Lắk (LLTP); - Phòng PC 11, Công an tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện K; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ, văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Đình Nam |