vanban.org

Bản án 09/2025/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 10/01/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng

Hình sự; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 30/8/20024, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. [2] Tuyên bố các bị cáo Lê Tấn Đ, Nguyễn Vă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-PT
Ngày: 10/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Dung

Các Thẩm phán:

Ông Phùng Anh Dũng

Bà Trần Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Mai - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Luyện - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân

dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 467/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lê Tấn Đ, Nguyễn Văn N về tội “Giết người”.

Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng

Ngãi đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2420/2024/QĐXXPT-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024.

Bị cáo bị kháng nghị:

1. Lê Tấn Đ, sinh ngày 01/02/1991 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q và bà Hồ Thị H; vợ: Nguyễn Thị Hồng T, có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền sự: không; Tiền án: có 01 tiền án: Ngày 02/8/2021, bị Toà án nhân

dân huyện Bình Sơn xử phạt 40.000.000đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2021/HS-ST, ngày 09/8/2022 bị cáo chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

2. Nguyễn Văn N, sinh ngày 14/8/1989 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú:

thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T1; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Lê Tấn Đ: ông Lê Hoàng H1 - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: A P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

- Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Nguyễn Văn N: ông Nguyễn

Công T2 – Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Công T2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Đinh Văn T3, sinh năm 1997; địa chỉ: thôn L, xã B, huyện B, tỉnh

Quảng Ngãi, có mặt.

2. Phạm Quang T4 (Tên gọi khác: L), sinh năm 1991; địa chỉ: tổ dân phố

D, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 24/7/2023, tại nhà Bùi Ngọc P1 ở Tổ dân phố D, thị

trấn C, huyện B có tổ chức lễ cúng cháo trước khi tổ chức đám cưới; Nguyễn Văn N và Lê Tấn Đ đến dự tiệc, ngồi chung bàn với Chu Trường H2, Phạm Quang T4, Đinh Văn T3, Nguyễn Chí C và một số người khác. Trong quá trình ngồi chơi tại đây thì giữa Chu Trường H2 và Lê Tấn Đ xảy ra mâu thuẫn cãi vã dẫn đến đánh nhau; Chu Trường H2 dùng 01 cái chén tại bàn đánh 01 cái vào miệng Lê Tấn Đ. Thấy Lê Tấn Đ bị đánh nên những người có mặt tại đây can ngăn; sau đó, Lê Tấn Đ và Nguyễn Văn N ra về. Do còn bực tức vì bị Chu Trường H2 đánh nên trên đường đi về nhà, Lê Tấn Đ rủ Nguyễn Văn N đi tìm Chu Trường H2 để đánh lại thì Nguyễn Văn N đồng ý. Lúc này, Nguyễn Văn N lấy 01 khúc cây gỗ dài khoảng 83cm tại khu vực trước nhà của Lê Tấn Đ, còn Lê Tấn Đ vào nhà lấy 01 cây dao tự chế dài 1,45m, có phần cán bằng kim loại dài 1,14m, đường kính 2,6cm; phần lưỡi dao bằng kim loại dài 31cm, rộng 6,2cm mang theo. Khi đi, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47D1 – 072.07 nhãn hiệu Yamaha Exciter chở Lê Tấn Đ quay lại khu vực trước nhà của Bùi Tấn P2 để tìm Chu Trường H2 nhưng không thấy nên Nguyễn Văn N và Lê Tấn Đ đi về.

Cùng thời điểm này, do biết Lê Tấn Đ bị đánh nên Phạm Quang T4 rủ Đinh Văn T3 và Nguyễn Chí C đến nhà Lê Tấn Đ với mục đích để nói chuyện và xem Lê Tấn Đ bị thương tích như thế nào. Khi đi, Đinh Văn T3 điều khiển xe chở Phạm Quang T4, còn Nguyễn Chí C đi một mình đến nhà Lê Tấn Đ nhưng không gặp Đ nên ra về. Lúc này khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đang trên đường đi ra thì Phạm Quang T4, Đinh Văn T3 và Nguyễn Chí C nhìn thấy Lê Tấn Đ và Nguyễn Văn N vừa về; Lê Tấn Đ nghĩ rằng T4, T3 và C đến nhà tìm đánh mình nên liền cầm cây dao tự chế đã mang theo trước đó chém 01 cái trúng vào vùng đầu và 01 cái trúng vào tai trái của Đinh Văn T3 thì T3 bỏ chạy; còn Nguyễn Văn N cầm cây gỗ đã mang theo trước đó đánh 01 cái theo hướng từ sau ra trước, từ phải qua trái trúng vào vùng đầu Phạm Quang T4 làm T4 gục ngã và bất tỉnh tại chỗ. Nghe tiếng đánh nhau tại khu vực trước nhà mình, bà Hồ Thị H (mẹ đẻ Lê Tấn Đ) chạy ra can ngăn, không cho đánh nhau nữa.

Hậu quả, Đinh Văn T3 bị thương tích được đưa đến Trung tâm y tế huyện B điều trị đến sáng ngày 25/7/2023 thì xuất viện; Phạm Quang T4 được đưa đến Bệnh viện Đ1 điều trị đến ngày 31/7/2023 thì xuất viện.

- Kết luận giám định pháp y về thương tích số 90/KLTTCT-TTPY ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận thương tích của Phạm Quang T4 như sau: tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương phải: 18%; nứt sọ thái dương phải dưới 3cm: 09%. Tổng cộng: 25,38%, làm tròn số 25%. Tổn thương trên phù hợp với vật tày gây thương tích.

- Kết luận pháp y về thương tích số 165/KLTTCT-TTPY ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, kết luận thương tích của Đinh Văn T3 như sau: sẹo vùng đầu sau tai bên trái KT (2,5 x 0,3) cm: 01%; sẹo vùng đỉnh trái KT (3 x 0,2) cm: 01%. Tổng cộng: 02%.

Cáo trạng số: 64/CT-VKSQNG-P1 ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân

dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Lê Tấn Đ, Nguyễn Văn N về tội: “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định:

1. Các bị cáo Lê Tấn Đ, Nguyễn Văn N phạm tội “Giết người”.

1.1 Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Tấn Đ 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/3/2024).

1.2 Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/3/2024).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 30/8/2024,

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi có kháng nghị đề nghị sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, áp dụng thêm tình tiết “Giết 2 người trở lên” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt đối với các bị cáo Lê Tấn Đ và Nguyễn Văn N về tội “Giết người”.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có quan điểm: đề

nghị HĐXX phúc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm, áp dụng thêm tình tiết “Giết 2 người trở lên” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt đối với các bị cáo Lê Tấn Đ và Nguyễn Văn N mới phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

Ý kiến của bị cáo Đ: bị cáo không thống nhất tình tiết giết 2 người trở lên, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của Luật sư và ý kiến của bị cáo N: Xin HĐXX xem xét, tình tiết giết 2 người trở lên như kháng nghị của Viện kiểm sát là không đúng, xin HĐXX giữ nguyên căn cứ pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong hạn luật định và đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong vụ án có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 23 giờ, trước nhà Lê Tấn Đ, cho rằng các anh Phạm Quang T4, Đinh Văn T3 đến nhà để tìm đánh mình, nên bị cáo Lê Tấn Đ sử dụng dao tự chế có chiều dài 1,45m chém 02 nhát: 01 nhát trúng vào vùng đầu, 01 nhát trúng vào tai trái của Đinh Văn T3 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương qua giám định là 02%; còn bị cáo Nguyễn Văn N sử dụng cây gỗ dài 80cm, đánh 01 cái theo hướng từ sau ra trước, từ phải qua trái trúng vào vùng đầu Phạm Quang T4 làm anh T4 bất tỉnh tại chỗ, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương qua giám định là 25%.

[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm sức

khỏe của bị hại, ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Mặc dù, từ trước giữa các bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì nhưng các bị cáo vô cớ cho rằng bị hại Đinh Văn T3, Phạm Quang T4 và anh Nguyễn Chí C đến nhà tìm đánh mình nên bị cáo Đ đã sử dụng dao chém vào vùng đầu của anh Đinh Văn T3; bị cáo N dùng cây gỗ dài 80cm đánh 01 cái vào vùng đầu Phạm Quang T4. Các bị cáo thực hiện hành vi sử dụng dao, cây gỗ là hung khí nguy hiểm tác động vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của con người thì có thể dẫn đến chết người nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, hậu quả chết người chưa xảy ra là ngoài ý thức chủ quan của các bị cáo.

[2.3] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết các bị cáo Lê Tấn Đ, Nguyễn Văn N tội “Giết người” thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Lê Tấn Đ phạm tội Đánh bạc chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; riêng bị cáo Nguyễn Văn N hưởng thêm tình tiết quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được tặng Giấy khen vì đã có nhiều thành tích trong hoạt động của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam xã B, được Huyện ủy B tôn vinh là “Tấm gương bình dị mà cao quý” trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách H3; các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt.

[3] Xét kháng nghị:

[3.1] Sau khi bị Chu Trường H2 đánh, bị cáo Lê Tấn Đ về rủ bị cáo

Nguyễn Văn N và chuẩn bị hung khí đi tới nhà đánh Chu Trường H2 nhưng không gặp. Khi quay về trước ngõ N, nhìn thấy 3 người Phạm Quang T4, Đinh Văn T3 và Nguyễn Chí C từ nhà Đ đi ra thì N nói với Đ “Tụi nó kiếm mày kìa”, nên cả 02 bị cáo đều nghĩ rằng nhóm của bị hại đến tìm Đ để đánh nên ngay lúc đó bị cáo Đ nhảy xuống xe, sẵn trên tay cầm dao tự chế ví chém anh T3 thương tích 2%, còn bị cáo Nhật nhặt lại cây gỗ đánh mạnh vào đầu anh T4, thương tích 25%. Như vậy, xét về ý thức chủ quan 02 bị cáo tiếp nhận ý chí của nhau, cùng thực hiện hành vi đánh nhóm của bị hại với tính chất đồng phạm mang giản đơn vì vậy cả hai phải cùng chịu chung về hậu quả của đồng phạm gây ra.

[3.2] Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị và quan

điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, sửa bản án hình sự sơ thẩm, áp dụng thêm tình tiết “Giết 02 người trở lên” theo điểm a khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; theo đó, tăng mỗi bị cáo 01 năm tù mới phù hợp, mới tương xứng với tính chất, mức độ, hậu của của hành vi phạm tội.

[3.3] Việc nhận định và áp dụng điều luật của Tòa án cấp sơ thẩm mâu

thuẫn với nhau; nhận định các bị cáo thực hiện hành vi không đồng phạm nhưng tại phần Quyết định của Bản án áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự (Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm), cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[4] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng

Hình sự; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS ngày 30/8/20024, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

[2] Tuyên bố các bị cáo Lê Tấn Đ, Nguyễn Văn N phạm tội “Giết người”.

[2.1] Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2

Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Tấn Đ 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/3/2024).

[2.2] Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2

Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 04/3/2024).

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số số 74/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ