- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sơn Thị Lệ T ly hôn với Lý Thanh L"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày 28 – 5 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH GIA LAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Khắc Toản
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tạ Thị Hài và ông Nguyễn Văn Liễu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nay San – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 101/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 04 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Sơn Thị Lệ T, sinh năm 1994. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: G4/24, ấp G, xã L, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Anh Lý Thanh L, sinh năm 1992. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Buôn T, xã I, huyện K, tỉnh Gia Lai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Sơn Thị Lệ T trình bày:
- Về hôn nhân: Năm 2014 vợ chồng chúng tôi kết hôn, được UBND xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 23/7/2015. Sau khi kết hôn chúng tôi sống được 06 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2016 mâu thuẫn ngày càng nhiều, chồng tôi ăn chơi và không có trách nhiệm với vợ con. Nay mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, mặc dù hai bên đã cố gắng hòa giải nhưng không thành. Nay tôi đề nghị Tòa án xem xét cho tôi và anh Lý Thanh L được ly hôn.
- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Lý Tú Anh K, sinh ngày 06/04/2015. Sau khi ly hôn con chung sẽ do tôi trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: Tôi không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn anh Lý Thanh L trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến, trình bày gửi cho Tòa án nên không có quan điểm gì.
Phát biểu ý kiến sau phần tranh luận, Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên toà Hội đồng xét xử (sau đâu gọi tắt là HĐXX) cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên toà cho đến trước khi nghị án; đương sự cũng có thái độ chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng.
Nội dung vụ án thì Kiểm sát viên có quan điểm:
Về hôn nhân: Chị T và anh Linh tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và về chung sống vợ chồng từ năm 2018, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 23/7/2015. Cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng mấy năm trở lại đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn hòa hợp nhau về mọi mặt. Cũng từ khi mâu thuẫn thì vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa.
Chị T thấy có tiếp tục chung sống cũng không có hạnh phúc, nay chị T đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Pa giải quyết cho chị T được ly hôn với anh L trước pháp luật.
Đối với anh L mặc dù đã được triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ lời khai, chứng cứ gì trong hồ sơ, do vậy không có cơ sở để xem xét.
Căn cứ vào Đơn đề nghị xác nhận mâu thuẫn vợ chồng ngày 01/11/2024 của chị T được Ấp trưởng Xum Thum B và Công văn số 72/UBND ngày 25/3/2025 của UBND xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng xác minh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Linh, thì thấy vợ chồng chị T và anh L1 trong quá trình chung sống với nhau có mâu thuẫn, đời sống chung không hạnh phúc, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Linh đã đến mức mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy chị T yêu ly hôn với anh L1 trước pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Về con chung: Chị T và anh L1 có 01 con chung là Lý Tú Anh K, sinh ngày 06/04/2015. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con. Hiện nay con chung là Lý Tú Anh K đang được chị T nuôi dưỡng, chăm sóc đảm bảo về mọi mặt cho con.
Đối với anh L1 không có ý kiến gì về con chung nên không có cơ sở để xem xét.
Về cấp dưỡng: Không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
Từ các phân tích nêu trên, căn cứ các Điều 28, 35 BLTTDS năm 2015; Điều 9, 51, 53, 56, 58, 69, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Lý Thanh L được ly hôn trước pháp luật.
Về con chung: Giao con chung Lý Tú A Kiệt cho chị T1 trực tiếp nuôi dương, chăm sóc, giáo dục
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết nên không có xet xét.
Về án phí ly hôn: Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T1 phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của BLTTDS và nguyên đơn chị Sơn Thị Lệ T khởi kiện bị đơn anh Lý Thanh L có nơi cư trú xã I, huyện K, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện K thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 của BLTTDS.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn anh Lý Thanh L vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do vậy, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của BLTTDS. HĐXX chỉ căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án để quyết định, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của BLTTDS.
[3] Về hôn nhân:
Chị Sơn Thị Lệ T và anh Lý Thanh L có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 23/7/2015 tại UBND xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó hôn nhân giữa chị Sơn Thị Lệ T và anh Lý Thanh L là hợp pháp.
Chị T cho rằng trong quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng về sau cuộc sống gia đình phát sinh mâu thuẫn, tính tình không hòa hợp nhau về mọi mặt, không có cùng quan điểm sống, không cùng chí hướng để xây dựng hạnh phúc. Hiện chị T và anh L không còn chung sống với nhau. Tại Đơn đề nghị xác nhận mâu thuẫn vợ chồng ngày 01/11/2024 của chị T được Ấp trưởng Xum Thum B và Công văn số 72/UBND ngày 25/3/2025 của UBND xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng đã xác nhận về tình trạng vợ chồng chị T và anh Linh có nhiều mâu thuẫn, cãi vã hiện đã sống ly thân từ lâu.
Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị T và anh Linh đã đến mức mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu, quý trọng, giúp đỡ nhau và không cùng chí hướng xây dựng gia đình nữa, đã sống ly thân nên yêu cầu ly hôn của chị T là chính đáng và có cơ sở. Do đó, HĐXX cần cho chị T được ly hôn với anh L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của LHNGĐ.
[4] Về nuôi con:
Vợ chồng chị T và anh L có 01 con chung là Lý Tú Anh K, sinh ngày 06/4/2015. Chị T có nguyện vọng nuôi con chung. Còn anh L không có ý kiến gì.
Tòa án cũng lấy ý kiến của con trên 07 tuổi là cháu Lý Tú Anh K, thì cháu K có nguyện vọng được ở với mẹ là chị T khi chị T và anh L ly hôn. Do đó, HĐXX thấy cần thiết giao cháu Lý Tú A Kiệt cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con:
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin xét xử vắng mặt, thì chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung, nên HĐXX không xem xét.
[6] Về tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản:
Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 4, 5, 6; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
- Căn cứ khoản 1 Điều 9, các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014,
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
Chị Sơn Thị Lệ T được ly hôn với anh Lý Thanh L trước pháp luật.
2. Về con chung:
Giao con chung chưa thành niên là Lý Tú Anh K, sinh ngày 06/4/2015 cho chị Sơn Thị Lệ T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Anh Lý Thanh L có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với chị Sơn Thị Lệ T.
Sau khi ly hôn anh Lý Thanh L được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Nếu anh Lý Thanh L lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con là chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Chị Sơn Thị Lệ T cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con:
Anh Lý Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản:
Các đương sự không yêu cầu do đó HĐXX không xem xét.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
5.Về án phí:
Chị Sơn Thị Lệ T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004366 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện K, tỉnh Gia Lai. Chị Sơn Thị Lệ T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn chị Sơn Thị Lệ T và bị đơn anh Lý Thanh L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND t. Gia Lai; - VKSND h. Krông Pa; - Chi cục THADS h. Krông Pa; - UBND xã Lai Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ/VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Khắc Toản |