- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Văn T - Nguyễn Thị Vũ T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-01-2025 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trung Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thúy Kiên.
2. Ông Nguyễn Viết Ngoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Dƣơng Văn T, sinh năm 1989 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Vũ T1, sinh năm 1992. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 26.02.2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Dương Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Vũ T1 sau thời gian tìm hiểu tiến đến hôn nhân vào năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T. Ông bà chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, do bà T1 ham mê cờ bạc làm cho kinh tế gia đình khó khăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Năm 2022, ông bà sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay ông T xác định không còn tình cảm với bà T1 nên ông yêu cầu ly hôn. Ngoài ra, ông không có yêu cầu gì khác.
Về con chung: Ông, bà có một con chung tên Dương Nguyễn Hải Đ (nam), sinh ngày: 28.02.2018. Từ khi ông và bà T1 ly thân cho đến nay, con chung đều do ông nuôi dưỡng. Khi ly hôn ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại Bản tự khai ngày 07.11.2024, bà Nguyễn Thị Vũ T1 trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của ông T. Ông bà sau thời gian tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung, ông bà có một người con chung như ông T trình bày là đúng. Theo bà T1 mâu thuẫn dẫn đến việc ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hôn nhân ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn. Nay trước yêu cầu ly hôn của ông T thì bà đồng ý. Về con chung bà thống nhất giao con chung cho ông T nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, do bận đi làm xa nên bà xin vắng mặt trong các buổi hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa, ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, ông không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Dương Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Vũ T1.
- Về con chung: Ông bà có một con chung tên Dương Nguyễn Hải Đ (nam), sinh ngày: 28.02.2018. Giao cháu Đ cho ông T nuôi dưỡng, bà T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự thống nhất xác định không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân của ông Dương Văn T và bà Nguyễn Thị Vũ T1 là tự nguyện. Ông bà tiến tới hôn nhân vào năm 2016, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ông T có đơn khởi kiện ly hôn đối với bà T1 nên Tòa án thụ lý xem xét, giải quyết theo thủ tục chung.
Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Vũ T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà T1.
Xét yêu cầu ly hôn của ông T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình chung sống giữa ông T và bà T1 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông bà bất đồng quan điểm sống, kinh tế gia đình gặp khó khăn dẫn đến ông bà thường xuyên cải vả. Mặc dù, ông T và bà T1 đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng vẫn không thể khắc phục được, từ đó hạnh phúc vợ chồng không còn. Năm 2022, ông T và bà T1 sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng nay ông T và bà T1 xác định không còn tình cảm với nhau, ông bà có thời gian sống ly thân. Từ đó, cho thấy hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, ông T và bà T1 đều cùng yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 công nhận cho ông Dương Văn T và bà Nguyễn Thị Vũ T1 thuận tình ly hôn.
Về con chung: Ông, bà có một con chung tên Dương Nguyễn Hải Đ (nam), sinh ngày: 28.02.2018. Xét hiện nay con chung do ông T nuôi dưỡng, khi ly hôn bà T1 có ý kiến được nhường quyền nuôi con cho ông T và ông T cũng đồng ý tiếp tục nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ngoài ra, xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên người được quyền yêu cầu cấp dưỡng không có văn bản yêu cầu bà T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định nên Hội đồng xét xử không buộc bà T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Dương Văn T và bà Nguyễn Thị Vũ T1 phải nộp theo quy định pháp luật.
Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16.5.2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận ông Dương Văn T và bà Nguyễn Thị Vũ T1 thuận tình ly hôn.
2. Về con chung: Ông bà có một con chung tên Dương Nguyễn Hải Đ (nam), sinh ngày: 28.02.2018. Giao cháu Đ cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho bà T1 không ai được quyền ngăn cản. Bà T1, ông T có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
4. Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Ông Dương Văn T phải chịu tiền án phí là 75.000 đồng (Bảy mươi lăm ngàn đồng) và ông T tự nguyện nộp thay 75.000đ (Bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí cho bà T1 tổng cộng số tiền án phí ông T phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà ông đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 0005651 ngày 15.10.2024 được chuyển thành án phí. Ông T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí còn dư là 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng).
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Thốt Nốt; - UBND phường Tân Lộc; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đoàn Thị Trung Thu |