vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: bà Tô Thị T được ly hôn với ông Trần Trọng B. Về con chung: Giao con chung là Trần Gia L, sinh ngày 12/12/2017 cho bà Tô Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Tô Thị T ly hôn với ông Trần Trọng B"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7- ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08/08/2025
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Long.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Lê Khắc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: ông Phan Hoài Đông - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7-Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 08 năm 2025, tại hội trường Tòa án nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2025/TLST-HNGĐ ngày 24/03/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/07/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025 ngày 22 tháng 07 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tô Thị T, sinh năm 1979.

Nơi Đăng ký HKTT: Thôn I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn I xã E, tỉnh Đắk Lắk).

Địa chỉ cư trú: Thôn F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) - có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Trọng B, sinh năm 1986.

Nơi Đăng ký HKTT: Thôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn A xã E, tỉnh Đắk Lắk).

Địa chỉ cư trú: Thôn F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tô Thị T trình bày: Bà T và ông B xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E vào ngày 17/11/2017. Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chỉ sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do cả hai bất đồng quan điểm sống, ông Bình thường X chơi bời không lo làm ăn, chăm sóc gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, mặc dù bà T đã nhiều lần góp ý nhưng ông B vẫn không thay đổi làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng thêm. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông B.

- Về con chung: Bà T và ông B có 01 con chung là Trần Gia L, sinh ngày 12/12/2017. Sau khi ly hôn bà T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại Bản tự khai lập ngày 28/3/2025 và biên bản lấy lời khai lập ngày 08/5/2025 bị đơn ông Trần Trọng B hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân, thời gian chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn. Do ông B thiếu sự quan tâm đến gia đình, hay đi chơi nên làm vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo ông B hiện nay mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng mà không thể hàn gắn được nên ông B đồng ý ly hôn với bà T.

- Về con chung: ông và bà T có 01 con chung là Trần Gia L, sinh ngày 12/12/2017. Sau khi ly hôn ông B có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông B vắng mặt tại các buổi hoà giải nên toà án không tiến hành hoà giải được. Nguyên đơn bà Tô Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông B. Sau khi ly hôn bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Gia L và không yêu cầu ông B cấp dưỡng tiền nuôi con, không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung và nợ chung.

* Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đều thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Trọng B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do là vi phạm các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T, xử cho bà Tô Thị T được ly hôn với ông Trần Trọng B. Giao cho bà T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Trần Gia L, sinh ngày 12/12/2017, bà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng tiền nuôi con, không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung và nợ chung nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị T Tòa án xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của BLTTDS.

Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt bị đơn: Bị đơn ông Trần Trọng B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Nguyên đơn bà Tô Thị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị T và ông Trần Trọng B có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E vào ngày 17/11/2017, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận giữa bà T và ông B xãy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm sống, ông B không quan tâm chăm sóc đến gia đình, không lo làm ăn làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng thêm và cả hai vợ chồng ông B, bà T đều có nguyện vọng được ly hôn.

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xác định trong thời gian chung sống tại địa phương giữa vợ chồng bà T, ông B đã xảy ra nhiều mâu thuẫn như các đương sự đã trình bày.

Như vậy HĐXX đã có cơ sở khẳng định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Tô Thị T và ông Trần Trọng B đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia Đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tô Thị T là có cơ sở.

- Về con chung: Bà T và ông B có một con chung là Trần Gia L, sinh ngày 12/12/2017, các đương sự đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cũng như lời trình bày của các đương sự thì hiện nay ông B không có nghề nghiệp ổn định, còn bà T làm nghề thợ may và buôn bán nên có thu nhập ổn định. Tại Văn bản ghi nhận ý kiến của con chung là Trần Gia L có nguyện vọng được ở với bà T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi ích về mọi mặt của con chung, đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung là Trần Gia L cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Tô Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Tô Thị T được ly hôn với ông Trần Trọng B.

2. Về con chung: Giao con chung là Trần Gia L, sinh ngày 12/12/2017 cho bà Tô Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Ông Trần Trọng B được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông Trần Trọng B không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc tranh nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Tô Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T đã nộp tạm ứng án phí, theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0001058 ngày 21/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện EaKar.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Tô Thị T, bị đơn ông Trần Trọng B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ