vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử d…

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn M. Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 22/3/2014 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi; giao các cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/11/2009 và Nguyễn Thị Than… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Liễu + Mai"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử d…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 09 /2025/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 01 năm 2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà và bà Hoàng Thị Thuý Giang

Thư ký phiên toà : Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân khu vực 5, tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 62/2025/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 32/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1991, Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, Địa chỉ: Xóm KT, xã HL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1984; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Xóm KT, xã HL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong đơn xin xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã HL, tỉnh Nghệ An vào ngày 28 tháng 4 năm 2008. Sau khi kết hôn xong vợ chồng về làm ăn sinh sống tại xã HL, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2018, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày cảng trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau. Vợ chồng đã sống còn sống chung, quan tâm chăm sóc nhau từ năm 2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nên chị L nguyện vọng được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về trách nhiệm nuôi con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/11/2009, Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh ngày 20/7/2011 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 22/3/2014. Hiện nay cháu Nguyễn Tuấn A đang đi làm ăn tại tỉnh Phú Thọ, cháu Nguyễn Thị Thanh Tr đang học tại trường Thể dục thể thao tỉnh Nghệ An. Trong đơn xin ly hôn chị có nguyện vọng được tực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con và không yêu cầu anh Nguyễn Văn M góp cấp dưỡng nuôi con chung. Nhưng trong đơn xin xử vắng mặt chị có nguyện vọng để các cháu Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Thị Thanh Tr cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dưỡng, còn chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuấn K và đề nghị tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 11 năm 2025 bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày:

Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn đúng như chị L trình bày. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi vợ chồng về sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Vợ chồng đã không sống chung, quan tâm, chăm sóc nhau từ năm 2023 cho đến nay. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình sống không hợp nhau. Hiện nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc chị Nguyễn Thị L xin ly hôn với anh thì anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị L.

Về trách nhiệm nuôi con chung: Vợ chồng anh có 03 con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/11/2009, Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh ngày 20/7/2011 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 22/3/2014. Vợ chồng ly hôn, nguyện vọng của anh là muốn được tực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Thị Thanh Tr đến tuổi trưởng thành còn cháu Nguyễn Tuấn K để cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị Nguyễn Thị L góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An phát biểu:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tố tụng, điều tra thu thập chứng cứ, chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về trách nhiệm nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Tuấn K cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, giao các cháu Nguyễn Thị Thanh Tr và Nguyễn Tuấn A cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị L.

Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn M có nơi cư trú tại xã HL, tỉnh Nghệ An. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Nguyễn Văn M vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt. Cho nên Hội đồng xét xử xét thấy việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn M kết hôn với nhau hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại xã HL, tỉnh Nghệ An vào ngày 28/4/2008 theo đúng quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình sống không hợp nhau. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay hai bên đều thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên đều nhất trí ly hôn nhau. Xét thấy sự thoả thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái quy định pháp luật. Cho nên, cần chấp nhận cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/11/2009, Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh ngày 20/7/2011 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 22/3/2014. Vợ chồng ly hôn chị L và anh M thống nhất giao cháu Nguyễn Tuấn K cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; giao các cháu Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị Thanh Tr cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị L. Xét thấy đây là sự thoả thuận của các bên không trái đạo đức xã hội và không trái với quy định của pháp luật và hoàn toàn phù hợp với ý kiến của con chung. Cho nên cần chấp nhận sự thoả thuận của các bên.

Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 22/3/2014 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi; giao các cháu Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/11/2009 và Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh ngày 20/7/2011 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị L.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 000938 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ