vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về con chung: Giao con chung là cháu Ly Mai Ph, sinh ngày 14/6/2011; Ly Hồng M, sinh ngày 06/8/2013; Ly My H, sinh ngày 09/7/2017 và Ly Minh H, sinh ngày 15/01/2019 cho anh Ly Mé C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Phùng Mì M có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn Cà +Mó"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30/09/2025.
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đức Hiệp;

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lý Ngọc Sáng;

2. Bà: Lý Thị The;

- Thư ký phiên tòa: Bà: Thào Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà: Phan Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04/09/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 19 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự sau:

1. Nguyên đơn: Anh Ly Mé C, sinh năm 1986. Địa chỉ: Bản Xà Phìn, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu - Có mặt tại phiên tòa có lý do.

2. Bị đơn: Chị Phùng Mì M, sinh năm 1990. Địa chỉ: Bản Xà Phìn, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 10/7/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Ly Mé C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phùng Mì M đến với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 01/6/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (Nay là UBND xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu). Thời gian đầu anh và chị M chung sống vui vẻ hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng nhau. Chị Phùng Mì M thường xuyên bỏ nhà đi theo bạn bè uống rượu, nghiện hút ma túy không quan tâm đến gia đình và các con. Mặc dù đã được gia đình khuyên bảo chị M thay đổi nhưng không có kết quả dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không thể hàn gắn. Hiện nay anh và chị M đã sống ly thân từ 2023 cho đến nay, không còn ai quan tâm đến ai nữa. Nay anh C xét thấy tình cảm không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy anh đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân khu vực 4 - Lai Châu xem xét, giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phùng Mì M.

Về con chung: Anh và chị Phùng Mì M có 04 con chung. Con thứ nhất là Ly Mai Ph, sinh ngày 14/6/2011; con thứ hai tên Ly Hồng M, sinh ngày 06/8/2013; con thứ ba tên Ly My H, sinh ngày 09/7/2017 và con thứ tư tên Ly Minh H, sinh ngày 15/01/2019. Nguyện vọng của anh C là được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả 04 con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu chị Phùng Mì M phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Ly Mé C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn chị Phùng Mì M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, chị M đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ly Mé C vì vậy Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và mở phiên hòa giải đoàn tụ cho anh chị được.

Tại biên bản xác minh với chính quyền địa phương ngày 20/8/2025 cho biết: Anh Ly Mé C và chị Phùng Mì M có thực hiện việc đăng ký kết hôn vào ngày 01/6/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (Nay là UBND xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu). Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng vui vẻ, hạnh phúc, tuy nhiên do chị M không chịu làm ăn, chăm sóc gia đình, hay bỏ nhà đi chơi bời và còn nghiện hút ma túy nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau nhưng mâu thuẫn cũng chỉ xảy ra trong nội bộ gia đình tự giải quyết với nhau nên chưa có lần nào phải yêu cầu đến lãnh đạo bản, lãnh đạo xã đứng ra can thiệp hay tổ chức hòa giải giữa hai vợ chồng. Hiện nay anh C, chị M không còn chung sống với nhau từ năm 2023 nên mọi việc trong gia đình đều do anh C tự quán xuyến và chăm sóc các con. Theo thông tin của chính quyền địa phương thì đến nay cả hai đều có mong muốn được giải quyết ly hôn. Về con chung chính quyền địa phương xác nhận anh Cà, chị Mó có 04 con chung. Con thứ nhất là Ly Mai Ph, sinh ngày 14/6/2011; con thứ hai tên Ly Hồng M, sinh ngày 06/8/2013; con thứ ba tên Ly My H, sinh ngày 09/7/2017 và con thứ tư tên Ly Minh H, sinh ngày 15/01/2019. Hiện nay cả 04 cháu đang sinh sống cùng anh C tại bản Xà Phìn, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu và đều phát triển khỏe mạnh về thể chất lẫn tinh thần.

Nay anh Ly Mé C có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con khi ly hôn đối với chị Phùng Mì M thì quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, căn cứ lời khai của các đương sự để giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa nguyên đơn anh Ly Mé C không thay đổi, bổ sung hay rút một phần hoặc toàn bộ về yêu cầu khởi kiện. Anh C vẫn kiên quyết giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phùng Mì M và giải quyết về việc nuôi con chung, theo nội dung đơn ly hôn của anh C đã trình bày.

* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi Thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.

Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng, đảm bảo quyền nghĩa vụ theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự (vắng mặt tại các buổi làm việc theo Giấy triệu tập của Tòa án và tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải).

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2025); Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh Ly Mé C được ly hôn với chị Phùng Mì M.

- Về nuôi con chung: Giao 04 con chung là cháu Ly Mai Ph, sinh ngày 14/6/2011; Ly Hồng M, sinh ngày 06/8/2013; Ly My H, sinh ngày 09/7/2017 và Ly Minh H, sinh ngày 15/01/2019 cho anh Ly Mé C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi).

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C không yêu cầu chị Phùng Mì M phải cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

- Về án phí: Nguyên đơn anh Ly Mé C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn, xét yêu cầu khởi kiện của anh Ly Mé C là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật nên cần chấp nhận. Toà án xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Phùng Mì M có đăng ký thường trú tại bản Xà Phìn, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu được quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).

[1.3] Về điều luật áp dụng: Anh Ly Mé C và chị Phùng Mì M kết hôn năm 2016 nên Toà án sẽ áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân và để giải quyết vụ án.

Về việc vắng mặt đương sự: Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 175, Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chị M không thực hiện quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự là do chị M đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Ngày 28/8/2025, anh C có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 19/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay chị Phùng Mì M tiếp tục vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đương sự tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Ly Mé C và chị Phùng Mì M tự nguyện kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (Nay là UBND xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu) vào ngày 01/6/2017. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị M là hợp pháp.

Theo các tài liệu chứng cứ thu thập được thì nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh C và chị M là do bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng nhau. Chị Phùng Mì M thường xuyên bỏ nhà đi theo bạn bè uống rượu, nghiện hút ma túy không quan tâm đến gia đình và các con dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không thể hàn gắn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Tháng 9/2023 chị M lại tiếp tục bỏ nhà đi theo bạn bè chơi bời, nghiện hút ma túy nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân cũng đã không còn ai quan tâm đến ai càng làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng dạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhận thấy việc anh Cà và chị M đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay thể hiện việc cả hai anh chị đã vi phạm nghĩa vụ của người vợ, người chồng, dẫn đến không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, cùng chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình với nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phùng Mì M vắng mặt tại phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như vắng mặt phiên tòa xét xử không có lý do. Điều này thể hiện sự không thiện chí trong việc hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, cũng như việc tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Vì vậy sau khi kết thúc phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ anh C đã có đơn xin từ chối hòa giải và đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho anh. Tại phiên tòa hôm nay anh C vẫn cương quyết đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phùng Mì M để giải phóng bản thân anh khỏi cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc này.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã phát sinh kéo dài, thời gian vợ chồng sống ly thân đã quá lâu, không còn quan tâm đến nhau hay một trong hai bên tìm cách để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Thể hiện mâu thuẫn giữa anh C và chị M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ly Mé C về việc đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phùng Mì M là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh Ly Mé C và chị Phùng Mì M có 04 con chung. Con thứ nhất là Ly Mai Ph, sinh ngày 14/6/2011; con thứ hai tên Ly Hồng M, sinh ngày 06/8/2013; con thứ ba tên Ly My H, sinh ngày 09/7/2017 và con thứ tư tên Ly Minh H, sinh ngày 15/01/2019. Hiện nay cả 04 cháu đang ở cùng anh C tại bản Xà Phìn, xã Bum Nưa, tỉnh Lai Châu. Sau khi ly hôn anh C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 04 con chung cho đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tính đến thời điểm giải quyết vụ án, cháu Ly Mai Ph, Ly Hồng M và Ly My H đã trên 7 tuổi (cháu Ph 14 tuổi, cháu M 12 tuổi và cháu H 08 tuổi). Quá trình giải quyết vụ án bản thân chị Phùng Mì M không đến Tòa án làm việc nên không tiến hành xác minh được quan điểm của chị M về việc nuôi dưỡng và chăm sóc các con chung. Mặt khác nguyện vọng của anh C cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu Ly Mai Ph, Ly Hồng M và Ly My H tại Biên bản ghi nhận ý kiến về nguyện vọng của con chung thì cả 03 cháu đều thể hiện sự mong muốn của mình là được ở với bố vì bố sẽ có thời gian quan tâm và chăm sóc các cháu tốt hơn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Con chung là cháu Ly Mai Ph, Ly Hồng M, Ly My H và Ly Minh H hiện đang ở với anh C đều được chăm sóc đầy đủ và phát triển khỏe mạnh về thể chất lẫn tinh thần. Anh C hiện có nơi cư trú ổn định, công việc chủ yếu là ở nhà làm ruộng nương và chăn nuôi nên không có thu nhập ổn định nhưng anh C được sự hỗ trợ của ông bà nội trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu. Do đó để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp về mọi mặt cho các cháu nên Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của anh Ly Mé C là có cơ sở, cần chấp nhận. Căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết về con chung của anh C: Giao 04 con chung là cháu Ly Mai Ph, sinh ngày 14/6/2011; Ly Hồng M, sinh ngày 06/8/2013; Ly My H, sinh ngày 09/7/2017 và Ly Minh H, sinh ngày 15/01/2019 cho anh Ly Mé C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Sau này chị Phùng Mì M có yêu cầu về việc nuôi con thì sẽ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác. Chị Phùng Mì M có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C không yêu cầu chị Phùng Mì M phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Anh Ly Mé C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2025);

- Căn cứ vào Điều 19, Điều 21, Điều 37, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Anh Ly Mé C được ly hôn với chị Phùng Mì M.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Ly Mai Ph, sinh ngày 14/6/2011; Ly Hồng M, sinh ngày 06/8/2013; Ly My H, sinh ngày 09/7/2017 và Ly Minh H, sinh ngày 15/01/2019 cho anh Ly Mé C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Phùng Mì M có quyền đi lại, thăm nom con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

5. Về án phí: Anh Ly Mé C phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận anh C đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000748 ngày 17/7/2025 tại Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 4 - Lai Châu. Anh Ly Mé C đã nộp đủ án phí HNGĐ-ST.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2025). Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ