vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cà Thị G ly hôn với anh Vì Văn Đ.

Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Vì Gia H, sinh ngày 11/3/2018 và cháu Vì Thị D A, sinh ngày 24/02/2025 cho chị Cà Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Người không t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cà Thị G ly hôn với Vì Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cà Thị G ly hôn với anh Vì Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
——————————
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày 10-11-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Hặc;

Ông Hạng Sáy Dua;

- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Long – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Trong ngày 10 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4

- Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 09 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: chị Cà Thị G; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Nậm H, xã Mường T, tỉnh Điện Biên. Chỗ ở hiện nay: Bản Nậm Hàng, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lý A C – Trợ giúp viên pháp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Vì Văn Đ; Địa chỉ: Bản Nậm H, xã Mường T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/5/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Cà Thị G trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Cà Thị G và anh Vì Văn Đ đã có thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn, anh chị tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 23/5/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Mường T, huyện Mường C, tỉnh Điện Biên (nay là Uỷ ban xã Mường T, tỉnh Điện Biên). Anh chị chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian không lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 10/2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị Cà Thị G xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Vì Văn Đ.

- Về con chung: Chị Cà Thị G và anh Vì Văn Đ có 02 con chung là cháu Vì Gia H, sinh ngày 11/3/2018 và cháu Vì Thị D A, sinh ngày 24/01/2021. Chị Cà Thị G có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả hai cháu cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động. Chị G không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Cà Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, kèm theo đơn khởi kiện chị Cà Thị G đã nộp cho Tòa án: 01 Bản chính giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 23/5/2018; Bản tự khai; Bản sao Căn cước công dân của chị Cà Thị G; Bản sao Căn cước công dân Vì Văn Đ; bản sao giấy khai sinh của các cháu Vì Gia H, Vì Thị D A; đơn đề nghị miễn án phí; Đơn trình bày nguyện vọng của cháu Vì Gia H; Đơn xác nhận tình trạng hôn nhân và thu nhập đề ngày 23/5/2025 có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Mường T, tỉnh Điện Biên. Việc giao nộp tài liệu chứng cứ đúng thời gian và đúng trình tự, thủ tục theo quy định.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng hết thời hạn anh Đ không có ý kiến phản hồi bằng văn bản cho Toà án. Tòa đã triệu tập nhiều lần và tiến hành tống đạt thông báo phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải vụ án cho anh Vì Văn Đ nhưng anh Đ vẫn không đến Tòa án. Do vậy, Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đồng thời thông báo, niêm yết kết quả phiên họp theo quy định. Ngày 18/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 4 – Điện Biên đã ra quyết định xét xử và đã tống đạt hợp lệ cho anh Đ nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất và tiến hành tống đạt quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa:

- Chị Cà Thị G vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, chị G giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con như đã trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai mà chị đã giao nộp cho Toà án.

- Bị đơn anh Vì Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Lý A C trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ chị G giao nộp thể hiện chị G có công việc ổn định, mức thu nhập 10.000.000 đồng/tháng, có nơi ở ổn định để nuôi con còn về phía anh Đ không phản hồi, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào thể hiện khả năng, điều kiện kinh tế và thời gian để chăm sóc các con. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị Cà Thị G: Về quan hệ hôn nhân chấp nhận cho chị G được ly hôn với anh Đ. Về con chung: Giao cả hai con chung cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các cháu. Về tài sản không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Cà Thị G và anh Vì Văn Đ; anh Vì Văn Đ có hộ khẩu thường trú tại bản Nậm H, xã Mường T, tỉnh Điện Biên. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15); điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:

Chị Cà Thị G đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tai phiên tòa ngày 10/11/2025. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Đối với bị đơn Vì Văn Đ: Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 175, Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự, việc anh Vì Văn Đ không thực hiện quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự là do anh Đ đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Ngày 04/9/2025, Toà án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên mở phiên toà lần thứ nhất, anh Vì Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Ngày 30/09/2025 Tòa án mở lại phiên tòa, anh Vì Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

Về điều luật áp dụng: Chị G, anh Đ kết hôn ngày 23/5/2018 tại Uỷ ban nhân dân xã Mường T, huyện Mường C, tỉnh Điện Biên (nay là xã Mường T, tỉnh Điện Biên). Do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét tính hợp pháp của quan hệ hôn và giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Cà Thị G và anh Vì Văn Đ có đăng ký kết hôn vào ngày 23/5/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Mường T, huyện Mường C, tỉnh Điện Biên (nay là xã Mường T, tỉnh Điện Biên) trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Cà Thị G và anh Vì Văn Đ là hợp pháp.

Theo bản tự khai của chị Cà Thị G: Chị và anh Vì Văn Đ chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Anh chị đã ly thân từ tháng 10/2021 cho đến nay, giữa anh chị không ai quan tâm đến nhau nên tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, lâm vào mâu thuẫn trầm trọng nên chị G yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Đ.

Về phía anh Vì Văn Đ: Sau khi thụ lý vụ án, anh Đ đã được tống đạt hợp lệ nhưng không trả lời thông báo thụ lý vụ án của Toà án và không chấp hành các giấy triệu tập, thông báo của Toà án. Anh Vì Văn Đ không có ý kiến trả lời, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Điều này thể hiện sự không thiện chí trong việc hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, cũng như việc tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình của anh Vì Văn Đ.

Hội đồng xét xử nhận định, mâu thuẫn vợ chồng chị Cà Thị G, anh Vì Văn Đ đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt không thể hàn gắn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Các bên đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng như không còn yêu thương nhau, không còn sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình và hiện nay anh chị đã ly thân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của chị Cà Thị G là phù hợp, có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận cho chị Cà Thị G được ly hôn với anh Vì Văn Đ.

Về con chung:

Các đương sự 02 con chung là cháu Vì Gia H, sinh ngày 11/3/2018 và cháu Vì Thị D A, sinh ngày 24/02/2025. Chị Cà Thị G đã giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh có đủ điều kiện, khả năng nuôi con. Cháu Huân cũng đã có đơn trình bày nguyện vọng được ở với mẹ. Còn về phía anh Vì Văn Đ không thể hiện ý kiến về việc nuôi con, không có tài liệu chứng cứ chứng minh khả năng và điều kiện nuôi con. Xét thấy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu Vì Gia H, Vì Thị D A cần căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Cà Thị G và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, giao cả hai cháu cho chị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Xét thấy chị Cà Thị G là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn nộp tạm ứng án phí, án phí. Vì vậy, cần áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng Dân sự, điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Cà Thị G.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

- Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và đình năm 2014;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cà Thị G ly hôn với anh Vì Văn Đ.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Vì Gia H, sinh ngày 11/3/2018 và cháu Vì Thị D A, sinh ngày 24/02/2025 cho chị Cà Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và cấp dưỡng nuôi con chung có thể thay đổi, Toà án sẽ xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật khi có đơn yêu cầu.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn Cà Thị G.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./

Cỡ chữ