vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lường Văn Ph.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là các cháu Lường Thị Kh, sinh ngày 23/3/2004, đã trưởng thành, không bị hạn chế, không bị mất năng lực hành vi dân sự. Cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010. Giao cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010 cho chị Lò Thị H trực trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lường Văn Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 7 - 2025
V/v:
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thị Khuyển và ông Quàng Văn Tiện

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung (của Tòa án nhân dân huyện SM trước khi sáp nhập) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐST

- HNGĐ ngày 09/7/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm 1985, địa chỉ: Bản NNg, xã MH , tỉnh Sơn La (trước khi sáp nhập là bản NNg, xã MH , huyện SM, tỉnh Sơn La), vắng mặt.

Bị đơn: Anh Lường Văn Ph, sinh năm 1983, địa chỉ: Bản NNg, xã MH , tỉnh Sơn La (trước khi sáp nhập là bản NNg, xã MH , huyện SM, tỉnh Sơn La), đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lường Văn Ph qua thời gian tìm hiểu, quen biết nhau, yêu thương nhau đã đăng ký kết hôn tại UBND xã MH , huyện SM, tỉnh Sơn La. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh Phanh nghiện ma túy phải đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Anh chị đã nhiều lần được gia đình 2 bên khuyên răn, nhắc nhở nhưng trong cuộc sống vợ chồng vẫn thường xuyên sảy ra cãi vã và không thể hòa hợp với nhau. Anh chị đã sống ly thân một thời gian, không còn yêu thương quan tâm đến nhau.

Do vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị viết đơn này kính mong Tòa án nhân dân huyện SM giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Về con chung: Trong quá trình sinh sống vợ chồng chị có 02 con chung là: Cháu Lường Thị Kh, sinh ngày 23/3/2004, đã trưởng thành, không bị hạn chế, không bị mất năng lực hành vi dân sự; cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010

Trong thời gian anh Lường Văn Ph đi cai nghiện cháu Lường Văn V ở với chị Lò Thị H. Nếu ly hôn chị Lò Thị H nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lường Văn V, không yêu cầu anh Lường Văn Ph phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi cháu Vũ cùng chị.

Về tài sản chung: Không yêu cầu.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lường Văn Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lò Thị H qua thời gian tìm hiểu, quen biết nhau, yêu thương nhau đã tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại UBND xã MH , huyện SM, tỉnh Sơn La. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh nghiện ma túy phải đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La. Anh chị đã nhiều lần được gia đình 2 bên khuyên răn, nhắc nhở nhưng trong cuộc sống vợ chồng vẫn thường xuyên sảy ra cãi vã và không thể hòa hợp với nhau. Anh chị đã sống ly thân một thời gian, không còn yêu thương quan tâm đến nhau.

Nay chị Lò Thị H viết đơn yêu cầu ly hôn, nguyện vọng của anh Lường Văn Ph nhất trí ly hôn.

Về con chung: Trong quá trình sinh sống vợ chồng chị có 02 con chung là: Cháu Lường Thị Kh, sinh ngày 23/3/2004, đã trưởng thành, không bị hạn chế, không bị mất năng lực hành vi dân sự; cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010

Trong thời gian anh Lường Văn Ph đi cai nghiện chất ma túy cháu Lường Văn V ở với chị Lò Thị H. Nếu ly hôn anh Lường Văn Ph không nhất trí giao cháu Lường Văn V cho chị Lò Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lường Văn V.

Về tài sản chung: Không yêu cầu.

Về nợ chung: Không có.

Kết quả ghi ý kiến con chung: Cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010, trên 07 tuổi. Tòa án đã tiến hành ghi ý kiến, nếu bố mẹ ly hôn, cháu Lường Văn V có nguyện vọng ở với mẹ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện SM phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc thụ lý xây dựng hồ sơ vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án huyện SM tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hội đồng xét xử tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm xét xử đều thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Chị Lò Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lường Văn Ph . Giao cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010 cho chị Lò Thị H trực trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; anh Lường Văn Ph chưa phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi cháu Vũ cùng chị Hương do chị Hương chưa yêu cầu. Về tài sản chung, tài sản riêng không yêu cầu tòa án giải quyết; về nợ chung cam đoan không có. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lò Thị H yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lường Văn Ph có địa chỉ tại Bản NNg, xã MH , tỉnh Sơn La (trước khi sáp nhập là bản NNg, xã MH , huyện SM, tỉnh Sơn La). Tòa án nhân dân huyện SM, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết, nay Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La tiếp tục giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lò Thị H và bị đơn anh Lường Văn Ph cùng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Về quan hệ hôn nhân:

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định chị Lò Thị H và anh Lường Văn Ph đăng ký kết hôn ngày 06/11/2002 tại UBND xã MH , huyện SM, tỉnh Sơn La. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc nên hôn nhân giữa chị Lò Thị H và anh Lường Văn Ph là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ theo Điều 9, Điều 11, Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình 2000.

Về tình trạng hôn nhân: Nguyên đơn chị Lò Thị H và anh Lường Văn Ph cùng khai. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do không hợp nhau, không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm sống và do anh Lường Văn Ph nghiện ma túy. Anh chị đã nhiều lần được gia đình 2 bên khuyên răn, nhắc nhở nhưng trong cuộc sống vợ chồng vẫn thường xuyên sảy ra cãi vã và không thể hòa hợp với nhau. Anh chị đã sống ly thân một thời gian, không còn yêu thương quan tâm đến nhau nữa. Mặt khác, chị Lò Thị H cương quyết yêu cầu ly hôn đã chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị H và anh Lường Văn Ph đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu, cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lường Văn Ph.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Lường Thị Kh, sinh ngày 23/3/2004, đã trưởng thành, không bị hạn chế, không bị mất năng lực hành vi dân sự; cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010. Trong thời gian anh chị sống ly thân cháu ở với mẹ. Để đảm bảo cuộc sống về mọi mặt của người chưa thành niên, đảm bảo cuộc sống không bị xáo trộn, căn cứ vào thực tiễn của cuộc sống và nguyện vọng của các bên đương sự:

Giao cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010 cho Lò Thị H trực trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Lường Văn Ph chưa phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi cháu Vũ cùng chị Hương do chị Hương chưa yêu cầu.

Anh Lường Văn Ph đang cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La nên anh không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lường Văn V. Việc anh không nhất trí giao cháu Vũ cho chị Hương trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là không có căn cứ, không chấp nhận.

Về tài sản chung: Không yêu cầu

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Lò Thị H là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn yêu cầu miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm nên cần chấp nhận theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, khoản 4 Điều 91; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Căn cứ Điều 9, Điều 11, Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình 2000; Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 56; 57; 58; 81; 82; 83; 84; khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Lường Văn Ph.

2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là các cháu Lường Thị Kh, sinh ngày 23/3/2004, đã trưởng thành, không bị hạn chế, không bị mất năng lực hành vi dân sự. Cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010.

Giao cháu Lường Văn V, sinh ngày 17/11/2010 cho chị Lò Thị H trực trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Anh Lường Văn Ph chưa phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi cháu Vũ cùng chị Hương do chị Hương chưa yêu cầu.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị H.

6. Về quyền kháng cáo: Anh Lường Văn Ph, chị Lò Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ