- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Bích N - Đỗ Văn H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Bích N
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04-8-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
2. Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Công Chức - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 152/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2025, Thông báo thay đổi địa điểm mở phiên tòa ngày 08/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Bích N, sinh năm: 1990
Địa chỉ: Tổ 22, khu phố Mỹ Thạnh, phường Mỹ Xuân, thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Phường Phú Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt)
Bị đơn: Ông Đỗ Văn H, sinh năm: 1999
Địa chỉ: Tổ 13, khu phố Phước Lập, phường Mỹ Xuân, thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là phường Phú Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con đề ngày 06 tháng 5 năm 2025 và trong quá giải quyết vụ án nguyên đơn bà Ngô Thị Bích N trình bày:
Bà và ông Đỗ Văn H bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2019, không tổ chức đám cưới, do tự tìm hiểu đến với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là phường Phú Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 12/12/2022. Thời gian đầu chung sống thì bà và ông H chung sống bình thường, không có gì xảy ra. Thời gian sau đó thì vợ chồng có những mâu thuẫn do khi bà sinh con ông H không quan tâm, chăm sóc hay đồng cảm về những áp lực của phụ nữ sau sinh phải chịu đựng cũng như nhiều lần ông H chơi cờ bạc, ghi đề, gây ra nợ nần. Bà và ông H đã ly thân từ giữa tháng 10 năm 2024 cho đến nay. Từ khi sống ly thân, bà và ông H không liên lạc gì với nhau. Nay xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H để bà ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà và ông H chung sống có hai con chung là trẻ Đỗ Thị Tú N, sinh ngày 07/12/2022 và trẻ Đỗ Thị Tú U, sinh ngày 07/12/2022. Hiện tại trẻ Uyên đang ở cùng bà, trẻ Ngân đang được ông H và ông bà nội trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Uyên, giao trẻ Ngân cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Đỗ Văn H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Ngô Thị Bích N được ly hôn với ông Đỗ Văn H
Về con chung: Giao trẻ Đỗ Thị Tú N, sinh ngày 07/12/2022 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, giao trẻ Đỗ Thị Tú U, sinh ngày 07/12/2022 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ nuôi con chung đối với ông H và bà N
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về án phí: Bà N chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Ngô Thị Bích N khởi kiện yêu cầu được ly hôn và tranh chấp về nuôi con với ông Đỗ Văn H. Đây là ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Đỗ Văn H đã đăng ký tạm trú tại tổ 13 khu phố Phước Lập, phường Mỹ Xuân, Thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là phường Phú Mỹ, thành phố Hồ Chí Minh) nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm đ khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Đỗ Văn H nhưng ông H vẫn không đến Tòa tham gia xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông H là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ yêu cầu của bà N cho ông H nhưng ông H không đến Tòa trình bày ý kiến, tham dự các buổi hòa giải, xét xử theo quy định mà vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Bích N và ông Đỗ Văn H sống chung có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là phường Phú Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Ngô Thị Bích N xác định bà và ông Đỗ Văn H mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà yêu cầu được ly hôn với ông H để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong vụ án này, bà N khai bà và ông H phát sinh mâu thuẫn do khi bà sinh con ông H không quan tâm, chăm sóc hay đồng cảm về những áp lực của phụ nữ sau sinh phải chịu đựng cũng như nhiều lần ông H chơi cờ bạc, ghi đề, gây ra nợ nần. Bà và ông H không còn tiếng nói chung. Bà và ông H đã ly thân từ giữa tháng 10 năm 2024 cho đến nay. Từ khi sống ly thân, bà và ông H không liên lạc gì với nhau. Mặt khác ông H không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà N và ông H không còn tình cảm và đều không có thiện chí để đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông H.
Về con chung: Bà N xác nhận bà và ông H có 02 con chung là trẻ Đỗ Thị Tú N, sinh ngày 07/12/2022 và trẻ Đỗ Thị Tú U, sinh ngày 07/12/2022. Hiện tại trẻ Ngân đang sống cùng với ông H, trẻ Uyên đang sống cùng với bà. Sau khi ly hôn, bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Uyên, giao trẻ Ngân cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H nhưng ông H vẫn không đến Tòa để thể hiện ý kiến của ông về vấn đề con chung mà vắng mặt không lý do.
Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, nhằm bảo đảm quyền lợi về mọi mặt, tránh việc xáo trộn trong sinh hoạt hiện tại của trẻ Ngân và trẻ Uyên, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Ngân cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, giao trẻ Uyên cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi trẻ Uyên, đây là sự tự nguyện của bà N và không trái luật nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông H. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H nhưng ông H vẫn không đến Tòa để thể hiện ý kiến của ông vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Ngân đối với bà N.
Về tài sản chung: Bà N xác nhận bà và ông H không có tài sản chung. Ông H vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề tài sản chung giữa ông và bà N nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung giữa bà N với ông H trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
Về nợ chung: Bà N xác nhận bà và ông H không có nợ chung. Ông H vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về vấn đề nợ chung giữa ông và bà N nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề nợ chung giữa bà N với ông H trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
Về án phí: Bà Ngô Thị Bích N chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 147, điểm d khoản 4 Điều 189, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Bích N
Cho bà Ngô Thị Bích N được ly hôn với ông Đỗ Văn H
Giấy chứng nhận kết hôn số 265 do Ủy ban nhân dân phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là phường Phú Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 22/12/2022 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao trẻ Đỗ Thị Tú U, sinh ngày 07/12/2022 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, giao trẻ Đỗ Thị Tú N, sinh ngày 07/12/2022 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông H,bà N.
Ông H, bà N có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
4. Về án phí: Bà Ngô Thị Bích N chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001154 ngày 07/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh). Bà N đã nộp đủ án phí.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6.
Về quyền kháng cáo: Bà Ngô Thị Bích N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đỗ Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TPHCM; - VKSND TPHCM; - VKSND KV 12 - TPHCM; - Phòng thi hành án dân sự KV 12 - TPHCM; - Ủy ban nhân dân phường Phú Mỹ, TP.HCM; - Lưu VP, hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy |