- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận sư thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07/03/2025 V/v: Ly hôn, T/C nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Bỉnh Quyền
2. Ông Bùi Khắc Dương
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân - Thư ký Tòa án Tòa án ND huyện Hoằng Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Long, Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 317/2024/TB-TLVA ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1990. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Địa chỉ: thôn T, xã Hoằng Q, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.
Bị đơn: Anh Lê Mạnh C, sinh năm 1987. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Địa chỉ: thôn H, xã Hoằng Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/11/2024, bản tự khai ngày 18/11/2024 nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:
Chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C tự nguyện kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn do UBND xã Hoằng Đ, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá cấp. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian đầu cho đến năm 2019 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nguyện vọng của chị H xin được ly hôn với anh Lê Mạnh C.
Về con: Chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C có 01 con chung cháu tên là Lê Danh Chính, sinh ngày 29/04/2017. Ly hôn, chị Hường có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng cháu Chính và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, hiện chị H đang làm Công ty cổ phần BVĐK Medic Hải Tiến mức thu nhập của chị mỗi tháng là hơn 13triệu đồng.
Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bản tự khai ngày 31/12/2024, bị đơn anh Lê Mạnh C trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lê Mạnh C và chị Lê Thị H tự nguyện kết hôn năm 2015 được UBND xã Hoằng Đ, huyện Hoằng Hoá cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Nay chị H làm đơn xin ly hôn tôi đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh Lê Mạnh C và chị Lê Thị H có 01 con chung cháu tên là Lê Danh Chính, sinh ngày 29/04/2017. Nay ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi con, anh C đồng ý giao cháu Chính cho chị H nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng: Anh C không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản và công nợ: Anh C không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai của cháu Lê Danh Chính: Cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn chị Lê Thị H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của BLTTDS. Bị đơn anh Lê Mạnh C chưa thực thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự như vắng mặt tại phiên hòa giải và kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ.
Về nội dung: Căn cứ Diều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C.
Về con chung: Công nhận chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C có 01 con chung cháu tên là Lê Danh Chính, sinh ngày 29/04/2017. Giao cháu Lê Danh Chính cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 144, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 chị Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Lê Mạnh C và xin được nuôi con chung. Căn cứ vào quy định tại Điều 68 BLTTDS xác định chị Lê Thị H là nguyên đơn, anh Lê Mạh C là bị đơn.
1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Mạnh C có địa chỉ tại xã Hoằng Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ pháp luật: Chị Lê Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Lê Mạnh C và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung nên được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc lĩnh vực dân sự.
Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp mâu thuẫn theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, chính quyền địa phương UBND xã Hoằng Đ xác nhận: Anh Lê Mạnh C và chị Lê Thị H tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2019. Nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm rõ, do vợ chồng anh chị không báo cáo chính quyền địa phương. Vợ chồng anh chị có 01 con chung cháu tên là Lê Danh Chính, sinh ngày 29/4/2017.
Ngày 07/02/2025 bị đơn anh Lê Mạnh C đã được thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, anh C và chị H có đơn xin xét xử vắng mặt có lý do nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C kết hôn với nhau năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, do Ủy ban nhân dân xã Hoằng Đ, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, cuộc sống vợ chồng anh chị không hòa thuận, thường xuyên cãi vã, xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị H có nguyện vọng được ly hôn với anh C và anh C đồng ý. Chứng tỏ tình trạng hôn nhân của chị H và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C có 01 con chung cháu tên là Lê Danh Chính, sinh ngày 29/4/2017.
Xét yêu cầu nuôi con của chị Lê Thị H: Xét thấy, yêu cầu nuôi con của chị H là phù hợp vì cháu Chính đang còn nhỏ cần có sự quan tâm chăm sóc của mẹ hơn bố, từ khi vợ chồng ly thân cháu ở cùng với chị H. Anh C cũng đồng ý giao cháu cho chị H nuôi dưỡng. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị H giao cháu Lê Danh chính cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C không yêu cầu Toà án giai quyết.
Về tài sản: Chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn là chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận sư thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Lê Mạnh C.
Về con chung: Công nhận cháu Lê Danh Chính, sinh ngày 29/4/2017, là con chung của anh Lê Mạnh C và chị Lê Thị H.
Giao cháu Lê Danh Chính cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi tuổi hoặc có sự thay đổi khác về pháp luật.
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Chị H và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở. Nếu anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C.
Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng chị được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004057 ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa. Chị H đã nộp đủ số tiền án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn chị Lê Thị H, bị đơn anh Lê mạnh C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Hoằng Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THA DS huyện. Hoằng Hóa; - UBND xã Hoằng Đ; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Phương |