vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T đối với anh Lê Văn Sĩ H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Lê Văn Sĩ H. Về con chung: Chị Ngô Thị T và anh Lê Văn Sĩ H chưa có con chung nên không đề cập giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T đối với anh Lê Văn Sĩ H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-02-2025
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Tài.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Gấm và ông Nguyễn Hữu Lõi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Linh Ngân, là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Thái Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn A, xã Nâm N, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bi ̣ đơn: Anh Lê Văn Sĩ H, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn B, xã Nâm N, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08-8-2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T với anh Lê Văn Sĩ H kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nâm N, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông ngày 03-10-2023. Trong thời gian sống chung chị T và anh Lê Văn Sĩ H sống với nhau không hạnh phúc, vợ chồng thường hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, nhiều lần xung đột, anh H chửi bới, đánh đập chị T nhiều lần, vợ chồng không còn tôn trọng nhau, chị T và anh Lê Văn Sĩ H đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Nay chị T cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không thể kéo dài được nữa, do đó chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Lê Văn Sĩ H.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Ngô Thị T và anh Lê Văn Sĩ H không có có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Lê Văn Sĩ H là bị đơn trong vụ án, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh thì được biết là anh Lê Văn Sĩ H có đăng ký hộ khẩu và hiện đang sinh sống tại thôn B, xã Nâm N, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông, Toà án đã thông báo cho anh H biết việc thụ lý vụ án và triệu tập đến Toà án để làm việc nhưng anh H không hợp tác để giải quyết vụ án. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và theo quy định của pháp luật nên trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa hôm nay Toà án tiến hành xác minh, lập văn bản và tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án đối với anh H theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Chị Ngô Thị T và anh Lê Văn Sĩ H kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc, thường hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, nhiều lần xung đột, anh H chửi bới, đánh đập nhiều lần, vợ chồng không còn tôn trọng nhau, chị T và anh Lê Văn Sĩ H đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Điều này chứng tỏ mục đích hôn nhân giữa chị Ngô Thị T và anh Lê Văn Sĩ H đã không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Do đó chị T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh H là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tuyên chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Lê Văn Sĩ H; Về con chung không có; Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết; Về án phí: Chị Ngô Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn là chị Ngô Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Song giải quyết ly hôn với anh Lê Văn Sĩ H. Bị đơn là anh Lê Văn Sĩ H có địa chỉ và đang sinh sống tại thôn B, xã Nâm N, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song; về quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Ngô Thị T là nguyên đơn trong vụ án, vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Lê Văn Sĩ H là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh thì được biết là anh Lê Văn Sĩ H có đăng ký hộ khẩu và hiện đang sinh sống tại thôn B, xã Nâm N, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông, Toà án đã thông báo cho anh Lê Văn Sĩ H biết việc thụ lý vụ án và triệu tập đến Toà án để làm việc nhưng anh Lê Văn Sĩ H không hợp tác để giải quyết vụ án. Do đó, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án cho bị đơn theo đúng quy định pháp luật nhưng anh Lê Văn Sĩ H vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T và anh H theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Lê Văn Sĩ H kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc, thường hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, nhiều lần xung đột, anh H chửi bới, đánh đập nhiều lần, vợ chồng không còn tôn trọng nhau, chị T và anh Lê Văn Sĩ H đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Bên cạnh đó, quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã nhiều lần tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, triệu tập đến làm việc nhưng anh H không hợp tác; những điều này thể hiện anh H không có nguyện vọng hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị T, từ bỏ các quyền và nghĩa vụ được trình bày, cung cấp tài liệu, chứng cứ của bị đơn; theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này chứng tỏ mục đích hôn nhân giữa chị T và anh H đã không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Do đó, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp theo khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Chị Ngô Thị T và anh Lê Văn Sĩ H chưa có con chung nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị T không yêu cầu, nên không đề cập giải quyết.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Chị Ngô Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T đối với anh Lê Văn Sĩ H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T được ly hôn với anh Lê Văn Sĩ H.

Về con chung: Chị Ngô Thị T và anh Lê Văn Sĩ H chưa có con chung nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị T không yêu cầu, nên không đề cập giải quyết.

2. Về án phí: Chị Ngô Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm (án phí hôn nhân), được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004320 ngày 09 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ