- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị Tố U đối với anh Lê Quang H về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮKNÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày 13/5/2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Văn Hòe
2. Ông Phạm Xuân Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 07/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vương Thị Tố U (Có mặt), sinh năm 1997
Địa chỉ: số A đường M, phường A, TP. Đ, tỉnh L.
- Bị đơn: Anh Lê Quang H (Có mặt), sinh năm 1986
Địa chỉ: bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, chị Vương Thị Tố U (nguyên đơn) trình bày: Chị U và anh Lê Quang H kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 21/9/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ. Hôn nhân của chị U và anh H là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.
Trong thời gian chung sống, chị U và anh H có 01 con chung: Cháu Lê Vương Hoàng P, sinh ngày 08/10/2018. Hiện tại cháu P đang ở với anh Lê Quang H tại bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ.
Chị U và anh H không có tài sản chung gì cả, tài sản riêng không có gì; cùng không vay mượn của ai cả, cũng không cho ai vay mươn.
Thời gian đầu mới kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn; vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách khác nhau, hay cãi nhau, nhiều lần anh H đã đánh đập chị U, có lần gây thương tích phải đi bệnh viện (chị U có gửi giấy tờ điều trị tại bệnh viện), vợ chồng không quan tâm đến nhau nữa, việc ai người đó làm. Vợ chồng anh H, chị U đã không chung sống cùng với nhau (ly thân) từ năm 2020, đây cũng là thời điểm chị U về TP. Đ sinh sống cùng với bố mẹ chị U.
Chị Vương Thị Tố U có quan điểm như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị U xin ly hôn với anh Lê Quang H
Về nuôi con chung: Chị U đồng ý giao cháu Lê Vương Hoàng P, sinh ngày 08/10/2018 cho anh Lê Quang H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với anh Lê Quang H (bị đơn): Tại phiên tòa, anh Lê Quang H trình bày: Anh Lê Quang H và chị Vương Thị Tố U kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 21/9/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ. Hôn nhân của chị U và anh H là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Trong thời gian chung sống, chị U và anh H có 01 con chung: Cháu Lê Vương Hoàng Ph, sinh ngày 08/10/2018. Hiện tại cháu P đang ở với anh Lê Quang H tại bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ. Chị U và anh H không có tài sản chung gì cả, tài sản riêng không có gì; cùng không vay mượn của ai cả, cũng không cho ai vay mươn. Thời gian đầu mới kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó có phát sinh mâu thuẫn; vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách khác nhau, hay cãi nhau, có lần anh H đã đánh đập chị U bị thương tích phải đi bệnh viện. Anh H và chị U đã không chung sống cùng với nhau (ly thân) từ năm 2020, đây cũng là thời điểm chị U về TP. Đ sinh sống cùng với bố mẹ chị U. Anh Lê Quang H có quan điểm như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Trường hợp chị U cương quyết ly hôn thì anh H cũng đồng ý ly hôn.
Về nuôi con chung: Anh H xin được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Vương Hoàng P, sinh ngày 08/10/2018 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà xác định việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; Đối với bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc ly hôn và nuôi con chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vương Thị Tố U được ly hôn với anh Lê Quang H.
Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Vương Hoàng P, sinh ngày 08/10/2018 cho anh Lê Quang H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Vương Thị Tố U phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Vương Thị Tố U yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Lê Quang H và xin được nuôi con chung, đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn (anh Lê Quang H) có đăng ký thường trú và sinh sống tại bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung vụ án:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Vương Thị Tố U và anh Lê Quang H kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 21/9/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ; việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị Vương Thị Tố U và anh Lê Quang H là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận. Thời gian đầu mới kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn; vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách khác nhau, hay cãi nhau, nhiều lần anh H đã đánh đập chị U, có lần gây thương tích phải đi bệnh viện (chị U có gửi giấy tờ điều trị tại bệnh viện), vợ chồng không quan tâm đến nhau nữa, việc ai người đó làm. Vợ chồng anh H, chị U đã không chung sống cùng với nhau (ly thân) từ năm 2020, đây cũng là thời điểm chị U về TP. Đ sinh sống cùng với bố mẹ chị U; giữa các bên không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc với nhau nữa. Chị U cũng thừa nhận, chị không còn tình cảm với anh Huy, không muốn tiếp tục chung sống với anh H và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống; mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục; chị U và anh H không còn tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, hôn nhân của chị U và anh H thật sự không đạt được mục đích; qua xác minh tại địa phương thì được cung cấp thông tin vợ chồng chị U và anh H có mâu thuẫn với nhau, vợ chồng đã sống ly thân với nhau được một thời gian dài. Do đó, Hội đồng xét xử cần căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vương Thị Tố U.
2.2 Về nuôi con chung: Chị Vương Thị Tố U đồng ý giao cháu Lê Vương Hoàng P, sinh ngày 08/10/2018 cho anh Lê Quang H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên.
Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì thì Tòa án quyết định giao con cho một bên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Cháu Lê Vương Hoàng P, sinh ngày 08/10/2018 hiện chưa đủ 7 tuổi nên không hỏi ý kiến của cháu; kể từ khi hai vợ chồng sống ly thân thì cháu P ở với anh H và do anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị U đồng ý giao cháu P cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng; anh H có đủ điều kiện về thu nhập, chỗ ở để chăm sóc, nuôi dưỡng con nên cần giao cháu P cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành.
2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
2.4 Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng không có tài sản gì chung, không vay mượn của ai hay cho ai vay mượn tài sản gì và các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Vương Thị Tố U phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228; Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị Tố U đối với anh Lê Quang H về việc ly hôn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vương Thị Tố U được ly hôn với anh Lê Quang H (chấm dứt quan hệ hôn nhân).
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Vương Hoàng P, sinh ngày 08/10/2018 cho anh Lê Quang H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung, người trực tiếp nuôi con không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục các cháu.
Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110 ; Điều 117 và Điều 119 Luật Hôn nhân gia đình 2014.
4. Về chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vương Thị Tố U phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008726 ngày 10/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Glong (02); - Chi Cục THADS huyện Đ; - UBND xã Q; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trung Dũng |