- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng H "tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" Nguyễn Văn Tr"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-01-2025 V/v “tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Văn Dững
2. Ông Bùi Quốc Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Minh Vương– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tiến hành xét xử công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm thụ lý số: 282/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1979 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã Bình Đ, huyện Bến L, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã Bình Đ, huyện Bến L, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/8/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H trình bày:
Sau thời gian quen biết, tìm hiểu nên giữa bà Nguyễn Thị Hồng H và ông Nguyễn Văn Tr tiến đến hôn nhân; ông bà có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Bình Đ, huyện Bến L, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 1999. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 05 người con chung; thời gian sau đó, giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn; nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm trong công việc, phát triển kinh tế gia đình. Ông bà đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay nhưng không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H yêu cầu được ly hôn với ông Tr.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà H và ông Tr có 05 người con chung tên Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 16/01/2000, Nguyễn Thị Hồng G1, sinh ngày 28/4/2001, Nguyễn Minh Ng1, sinh ngày 21/02/2005, Nguyễn Thị Ngọc Gi1, sinh ngày 21/10/2015, Nguyễn Minh Nh1, sinh ngày 23/02/2017. Hiện tại, các con chung Nguyễn Thị Hồng N1, Nguyễn Thị Hồng G1, Nguyễn Minh Ng1 đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp, Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Tr thì bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc Gi1, sinh ngày 21/10/2015, Nguyễn Minh Nh1, sinh ngày 23/02/2017 và không yêu cầu ông Tr có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Giàu, cháu Nhất.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức căn cứ quy định tại các Điều 196, Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; ghi ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Văn Tr đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Tuy nhiên, bị đơn ông Tr cố tình vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung với ông Tr. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”.
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Văn Tr có địa chỉ thường trú tại Ấp K, xã Bình Đ, huyện Bến L, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
. Về vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Bị đơn ông Nguyễn Văn Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng cố tình vắng mặt. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng H, trong quá trình giải quyết vụ án có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông Tr.
. Xét yêu cầu ly hôn của bà H thấy rằng: Bà H và ông Tr xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1999, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Bình Đ, huyện Bến L, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 1999 nên hôn nhân giữa bà H và ông Tr là hôn nhân hợp pháp.
Xét nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn là do bà H và ông Tr không cùng quan điểm trong công việc, phát triển kinh tế gia đình, nuôi dạy con chung. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay nhưng cũng không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; ông Tr đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa án để trình bày ý kiến, đưa ra giải pháp đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông Tr cố tình vắng mặt, phần nào thể hiện ông Tr không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Tr là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà H và ông Tr có 05 người con chung tên Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 16/01/2000, Nguyễn Thị Hồng G1, sinh ngày 28/4/2001, Nguyễn Minh Ng1, sinh ngày 21/02/2005, Nguyễn Thị Ngọc Gi1, sinh ngày 21/10/2015, Nguyễn Minh Nh1, sinh ngày 23/02/2017. Hiện tại, các con chung cháu Nguyễn Thị Hồng N1, Nguyễn Thị Hồng G1, Nguyễn Minh Ng1 đã trưởng thành và bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến. Đối với 02 con chung là cháu Ngọc Giàu và cháu Minh Nhất đang sống chung với bà H được chăm sóc, phát triển khỏe mạnh, bình thường. Đồng thời, theo nguyện vọng của cháu Ngọc Gi1, cháu Minh Nh1 là muốn sống chung với bà H. Do đó, để tạo điều kiện tốt nhất cho cháu Ngọc Gi1, cháu Minh Nh1 được phát triển khỏe mạnh về thể chất, được học tập, vui chơi bình thường như bao đứa trẻ khác nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu này của bà H; giao cháu Ngọc Gi1, cháu Minh Nh1 cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông Tr có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Bên không nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu một hoặc hai bên đương sự Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
. Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H đối với ông Nguyễn Văn Tr về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn với ông Nguyễn Văn Tr.
2. Về con chung, nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị Hồng H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Gi1, sinh ngày 21/10/2015 và Nguyễn Minh Nh1, sinh ngày 23/02/2017. Ông Nguyễn Văn Tr không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu một hoặc hai bên đương sự Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số 000.7736 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo qui định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Long An; -VKSND huyện Bến Lức; -CCTHADS huyện Bến Lức; - UBND xã Bình Đ; -Các đương sự; -Lưu HS-AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Đình Đông |