- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP SGTT - Ngô Thị T M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT. Buộc bà Ngô Thị Tuyết M trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT số tiền tính đến ngày 10/01/2025 là 62.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/DS-ST Ngày 10 tháng 01 năm 2025 Tranh chấp: Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Trọng Tâm
Ông Trương Công Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 748/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 529/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT
Địa chỉ: 00 – 00 N., phường 0, quận 0, thành phố H. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức T D – chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phước H – chức vụ: Chuyên viên thu hồi nợ tín dụng tiêu dùng – Phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Cà Mau; Địa chỉ: Số 00, N, phường 0, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Bị đơn: Bà Ngô Thị T M, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 0 L, khóm 0, phường 0, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn trình bày: Ngày 18/5/2023, bà Ngô Thị T M có ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT (gọi tắt là SacomBank) – Chi nhánh Cà Mau. Căn cứ thu nhập của bà Ngô Thị Tuyết M, SacomBank đã đồng ý cấp thẻ tín dụng tổng hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà M đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 489.203.400 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà M đã thanh toán cho SacomBank số tiền 444.253.000 đồng. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 19/9/2024 SacomBank đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà M vẫn không có thiện chí trả nợ. Tính đến ngày 19/9/2024 bà Mai còn nợ SacomBank số tiền vốn và lãi 54.287.506 đồng. Nay SacomBank khởi kiện yêu cầu bà Ngô Thị Tuyết M phải thanh toán cho SacomBank tổng số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 19/9/2024 là 54.287.506 đồng và khoản nợ lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn được xác định là tranh chấp hợp đồng hợp đồng vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Ngô Thị Tuyết M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà M theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả nợ theo hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 18/5/2023, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Ngày 18/5/2023 bà Ngô Thị Tuyết M có ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với SacomBank và được SacomBank đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà M tổng hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích vay tiêu dùng cá nhân, thời hạn sử dụng thẻ tín dụng là 03 năm. Quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà M đã thanh toán cho SacomBank số tiền 444.253.000 đồng. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 19/9/2024 SacomBank đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử thì bà M còn nợ SacomBank với tổng số tiền 62.778.928 đồng, trong đó: Nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi trong hạn 8.519.285 đồng, lãi quá hạn 4.259.643 đồng.
Đối với bị đơn bà Ngô Thị Tuyết M đã được Tòa án tống đạt, thông báo cho bà M biết được yêu cầu khởi kiện của SacomBank nhưng bà M vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản nêu ý kiến phản hồi gửi cho Tòa án.
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/5/2023, xét hợp đồng được ký giữa các bên là tự nguyện và đúng quy định pháp luật nhưng do bà M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng đã ký nên SacomBank khởi kiện yêu cầu bà M phải trả số tiền vay vốn, lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 62.778.928 đồng và lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ là có căn cứ, được chấp nhận.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên nguyên đơn không phải chịu án phí, đã qua có dự nộp nên được nhận lại. Bị đơn là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí nên phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35, 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT. Buộc bà Ngô Thị Tuyết M trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT số tiền tính đến ngày 10/01/2025 là 62.778.928 đồng, trong đó: Nợ gốc là 50.000.000 đồng, lãi trong hạn 8.519.285 đồng, lãi quá hạn 4.259.643 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 10/01/2025, bà M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ vốn chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vốn này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay quy định thì lãi suất mà bà M phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí dân sự có giá ngạch:
- Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT không phải chịu án phí. Ngày 08/11/2024 Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT có dự nộp 1.357.000 đồng theo biên lai số 0009620 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại.
- Bà Ngô Thị Tuyết M phải chịu án phí là 3.138.000 đồng (chưa nộp).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kiều Trang |